tạp
ghi sau 40 năm
(kỳ 1)
nếu bạn bắn súng
lục vào quá khứ
tương lai sẽ bắn đại
bác vào bạn
rasul gamzatov
|
|
bạn có thể
từ bỏ được mọi
thứ nhưng bạn không
thể
từ bỏ được quá
khứ
abraham lincoln
*
ngộ không phi ngọc
hùng ngộ không phi ngọc hùng ngộ không phi ngọc hùng
ngộ
|
Tạp ghi sau
40 năm
Tựa
Giống vòng
xích sắt của chiếc xe tăng với những móc xích hoen rỉ,
vì năm tháng nối nhau lăn theo gió cát bụi mù của trận địa.
Bài sử truyện đây cũng vậy, được kết nối với những
trận chiến qua giấy khô mực nẻ gần như đã mờ nhân ảnh
theo thời gian từ 2 giờ sáng ngày 10-3-1975 tại Ban Mê Thuột
đến 8 giờ 45 tối 30-4 ở Sài Gòn. Bài viết tạm cho là văn
sử mà sử phẩm trích dẫn theo tác giả trong và ngoài nước,
đôi khi có chi tiết búi bấn ngay trong một bài viết. Vì vậy
mức độ trung thực chỉ có giới hạn. Lực đực qua tác
giả ngoại quốc, vì thiên tả, những ký giả phản chiến
này cùng tiếng Tây tiếng u, nên không tránh khỏi chữ nghĩa
hợi ra thỉ, ngư ra lỗ. Riêng tác giả trong nước, với họ
lịch sử là chuyện kể của kẻ chiến thắng. Vì thế chẳng
thể cho là khả tín. Tuy nhiên người sưu tầm vẫn đần đù
đưa vào sử truyện để tồn nghi.
Đẽo câu gọt
chữ thì những góp nhặt, ghi chép trong tạp ghi không
di lụy với chủ quan, hay khách quan. Bởi nhẽ đúng hay sai
chỉ cách nhau một sợi tóc, vì cái đúng của hiện tại có
thể là cái sai của…100 năm sau. Vì vậy người sưu tầm
chỈ vơ bèo gạt tép những gì khả dĩ có thể chấp nhận
được. Và được biểu nhất lãm từng giờ, từng ngày với
phiến ngôn chích tự lụi đụi tìm lại những khúc quanh của
quân sử. Người sưu tầm không dám lấy đũa chống trời
lộng chữ như bút sử Lê Hy trong Đại Việt sử ký
là: "Khảo đính sử phẩm cũ, chỗ nào sai thì sửa lại, chỗ
nào đúng thì ghi chép lấy". Mà chỉ có chút hơi hám sử cương
mục của Chu Hy…đời Nam Tống: "Các việc chép theo thứ tự
thời gian như phép chép biên niên, nhưng tóm lược việc định
chép trong một đoạn hoặc một câu ngắn, nêu lên một tiêu
đề, ở dưới chép tự sự của sử sự xảy ra”.
Đắm chìm
trong lửa đạn, người sưu tầm mằn mò những sự kiện riêng
lẻ, kết nối thành một tương quan liên đới tổng hợp hầu
mong có cái nhìn nào đấy qua trận chiến của một thời khói
lửa. Từ lỗ chiếu môn qua đỉnh
đầu ruồi, người viết nhắm vào những truyện ngắn,
ký truyện, bút ký chiến trường để có cái nhìn
nào đó với trận chiến của thuở trời đất nổi cơn gió
bụi. Nói cho ngay, người viết cũng muốn đẩy đưa bạn đọc
phiêu lãng quên mình lãng du nhưng không lãng quên những ì
ầm của xe tăng, những ầm ì của đại pháo của một thời
chinh chiến đã qua.
Sa đà với
những góp nhặt sỏi đá khác, người sưu tầm chỉ
giữ lại dữ kiện như một dấu ấn của chiến trường xưa,
tên tuổi cũ. Tuy nhiên có một số tiết mục như quân sử
ngoại truyện, hay bên lề trận chiến đôi khi không
cùng góc nhìn với bạn đọc. Người viết không um thủm là
"phán quan" mà chỉ vạy vọ từ "ngự sử văn đàn" khó tính
khác. Thêm nữa qua sử học, sử phẩm khả tín sau 60 năm mới
được đưa vào sử thi. Nhưng nay đã 40 năm, những truyền
văn vẫn còn những ẩn khuất nằm sau những trận chiến để
trở thành truyền thuyết. Vì thế văn bài, văn sử này được
nối lại từng khúc, từng đoạn, được lược khảo, kỷ
lược hầu mong góp nhặt những mảnh khuyết sử như những
mắt xích đứt của chiếc xe tăng, của cả hai bên…bên bờ
trận địa.
 |
Tạp
ghi sau 40 năm để đi tìm thời gian đã mất, vì cảm tính,
vì đứng bên lề cuộc chiến, người cầm bút vất vưởng
với chữ nghĩa nên không thể tránh khỏi những cảm hoài
với những người cầm súng của một thời một thuở nhất
tướng công thành vạn cốt khô hiện đang nằm ở đâu đó…
(Nghĩa địa
Xuân Lộc sau 75)
|
Với thư bất
tận ngôn, ngôn bất tận ý, nay xin thưa.
Ất Mùi năm
thứ 40 (1975– 2015) - Phi Ngọc Hùng |
Mục lục
Tựa.........
Ngày
thứ 1 – 2 ngày trận chiến Ban Mê Thuột : 10-3-1975
Ngày
thứ 2 – Ban Mê Thuột thất thủ : 11-3-1975
Ngày
thứ 3 – Chuẩn bị tái chiếm Ban Mê Thuột: 12-3-1975
Ngày thứ
4 – Di tản miền Trung : 13-3-1975
Ngày
thứ 5 – Di tản cao nguyên : 14-3-1975
Ngày
thứ 6 – Khánh Dương : 15-3-1975
Ngày
thứ 7 - Quân đoàn II triệt thoái : 16-3-1975
Ngày thứ
8 – Tuy Hoà : 17-3-1975
Ngày thứ
9 – Phú Yên : 18-3-1975
Ngày thứ
10 – Trận chiến Quảng Trị : 19-3-1975
Ngày thứ
11 – Huế di tản : 20-3-1975
Ngày thứ
12 – Đèo Ải Vân : 21-3-1975
Ngày thứ
13 – Trận địa từ Huế tới Đà Nẵng : 22-3-1975
Ngày thứ
14 – Trận chiến Huế : 23-3-1975
Ngày thứ
15 – Tam Kỳ : 24-3-1975
Ngày thứ
16 – Đà Nẵng di tản : 25-3-1975
Ngày thứ
17 – Phú Thứ : 26-3-1975
Ngày thứ
18 – Bình Định : 27-3-1975
Ngày thứ
19 – Quảng Nam : 28-3-1975
Ngày thứ
20 – Lâm Đồng : 29-3-1975
Ngày thứ
21 – Quy Nhơn : 30-3-1975
Ngày thứ
22 – Bình Định thất thủ : 31-3-1975
Ngày thứ
23 - Ngày cuối cùng của Quân đoàn II : 1-4-1975
Ngày thứ
24 - Nha Trang : 2-4-1975
Ngày thứ
25 - Phan Rang – Phan Thiết : 3-4-1975
Ngày thứ
26 - Phan Rang - Ninh Thuận : 4-4-1975
Ngày thứ
27 - Sài Gòn thay đổi nhân sự (1) : 5-4-1975
Ngày thứ
28 - Phan Thiết – Bình Thuận : 6-4-1975
Ngày thứ
29 - Bình Dương – Long Khánh : 7-4-1975
Ngày thứ
30 - Trận chiến trên Quốc lộ 20 : 8-4-1975
Ngày thứ
31 - Trận chiến Long Khánh (Xuân Lộc) : 9-4-1975
Ngày thứ
32 - 12 ngày trận chiến Xuân Lộc : 10-4-1975
Ngày thứ
33 - 12 ngày trận chiến Xuân Lộc : 11-4-1975
Ngày thứ
34 - 12 ngày trận chiến Xuân Lộc : 12-4-1975
Ngày thứ
35 - 12 ngày trận chiến Xuân Lộc : 13-4-1975
Ngày thứ
36 - Trận chiến Long Khánh (CBU 55) : 14-4-1975
Ngày thứ
37 - Trận chiến Long Khánh (BLU 82) : 15-4-1975
Ngày thứ
38 - Trận chiến Dầu Giây : 16-4-1975
Ngày thứ
39 - 12 ngày trận chiến Xuân Lộc : 17-4-1975
Ngày thứ
40 - 12 ngày trận chiến Xuân Lộc : 18-4-1975
Ngày thứ
41 - 12 ngày trận chiến Xuân Lộc : 19-4-1975
Ngày thứ
42 - Xuân Lộc triệt thoái : 20-4-1975
Ngày thứ
43 - Sài Gòn thay đổi nhân sự (2) : 21-4-1975
Ngày thứ
44 - Long Khánh hoàn tất cuộc triệt thoái : 22-4-1975
Ngày thứ
45 - Sài Gòn lập tuyến phòng thủ : 23-4-1975
Ngày thứ
46 - Bà Rịa : 24-4-1975
Ngày thứ
47 – Bình Dương, Long An : 25-4-1975
Ngày thứ
48 - Bà Rịa : 26-4-1975
Ngày thứ
49 - Tân Cảng – Sài Gòn : 27-4-1975
Ngày thứ
50 - Sài Gòn thay đổi nhân sự (3) : 28-4-1975
Ngày thứ
51 - Sài Gòn di tản : 29-4-1975
Ngày thứ
52 – Sài Gòn ngày dài nhất : 30-4-1975
Bạt……..
Ghi chú: (1)
hoặc-
:
là ký hiệu của Chú thích hay Phụ chú, và (…)
là còn tiếp tục ở khúc sau.
Vì bài viết có quá nhiều tên
riêng, tên gọi nhưng trong ngữ pháp lại không có quy ước
viết chữ hoa hay chữ thường vì mỗi chữ hoa hay chữ thường
đặt ở đâu đều có dụng ý riêng nào đó. Nhất là cụm
từ quá dài nên để tránh rối trí, và rối rắm người viết
chỉ viết hoa ở chữ đầu như: Chính phủ cách mạng lâm
thời cộng hòa miền Nam Việt Nam, v…v… |
Vùng 2 chiến thuật – Quân
đoàn II
Vùng 2 CT từ Kontum đến Phan
Thiết.
(gồm các tỉnh: Ban Mê Thuột,
Pleiku,
Nha
Trang,
Cam
Ranh, v…v…Phan Rang)
Quân đoàn II có 2 sư đoàn:
Sư đoàn 22 và Sư đoàn 23. |
Sự bắt đầu của kết thúc
10-3-1975, thị xã Ban Mê Thuột
của tỉnh Đắc Lắc ở cao nguyên Trung phần miền Nam Việt
Nam sau khi bị quân Bắc Việt tấn công dữ dội đã thất
thủ. Tính từ ngày này đến 50 ngày (?)
sau đó thủ đô Sài Gòn cũng chịu chung số phận như Ban Mê
Thuột, đưa đến sự sụp đổ toàn diện của miền Nam và
chấm dứt cuộc chiến kéo dài hơn 30 năm. Sau 3 năm làm phóng
viên tại đây, đối với tôi (Komori Yoshihisa) là một chuỗi
ngày dài những lúc đi đây đi đó để bám sát chiến trường.
Tất cả đều là những sự kiện mà đối với sự suy nghĩ
thông thường của một đặc phái viên, có nằm trong mơ tôi
cũng không thể tưởng tượng được các diễn biến đột
ngột này.
Đối với miền Nam, trong ngày
tết Nguyên Đán năm 1975 đã xảy ra một điềm bất thường
là việc thị trấn Phước Bình của tỉnh Phước Long
cách Sài Gòn khoảng 130 km về hướng bắc đã bị quân Bắc
Việt chiếm cứ. Phước Bình vốn là một thị trấn nhỏ
nằm trong vùng núi non hiểm trở. Kể từ khi Hiệp định Ba
Lê được ký kết, tại nơi đây không xảy ra một cuộc giao
tranh quân sự nào. Vì thế, đây là một hành động vi phạm
trắng trợn điều khoản căn bản của Hiệp định Ba Lê của
Bắc Việt, nhưng họ vẫn tiếp tục mở rộng địa bàn tấn
công và sau đó đã làm chủ tình hình toàn bộ tỉnh Phước
Long. Nhưng về sự kiện này, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu
lại có hành động khó hiểu là không cho viện binh đến Phước
Long để tiếp cứu.
Xét về mặt chiến lược, Phước
Long là một cứ địa nằm dọc theo biên giới Campuchia, có
dân số ít ỏi lại thiếu tài nguyên, đồng thời nó cũng
nằm sát ngay khu vực của đường mòn Hồ Chí Minh nên khá
bất lợi trong việc đưa quân đến đây để phản công lại
quân Bắc Việt. Nhưng điều quan trọng hơn hết là có lẽ
ông Thiệu đã muốn chứng tỏ cho Hoa Kỳ thấy rằng Bắc
Việt đang ngang nhiên vi phạm Hiệp định Ba Lê và uy hiếp
miền Nam, như vậy, Hoa Kỳ sẽ không thể ngưng viện trợ
được. Đây chính là một sách lược của ông Thiệu.
(The Fall Of Sai Gon - Komori Yoshihisa)
Komori Yoshihisa, một đặc phái
viên kỳ cựu của Nhật Bản đã có mặt tại Sài Gòn trước
và sau thời điểm 30-4-1975. Komori Yoshihisa là ký giả của
tờ báo Mainichi được biệt phái đến Sài Gòn từ năm 1972
với tính cách là trưởng ban biên tập tại Sài Gòn.
- :
"Sự bắt đầu của
kết thúc” là tựa đề trong phần dẫn nhập Sài Gòn thất
thủ (The Fall Of Sai Gon) của ký giả Komori Yoshihisa.
Sài
Gòn thất thủ là một loạt ký sự được đăng tải suốt
gần một tháng trên nhật báo Sankei trong mục “Đặc phái
viên của thế kỷ 20".
- :
Xem "Xuân Lộc, một chiến thắng ngắn ngủi" hoặc Sài
Gòn thất thủ của Komori Yoshihisa
ở tiết mục Bình
Dương-Long Khánh: 7-4-1975 và Sài
Gòn lập tuyến phòng thủ: 23-4-11975.
Chiến dịch Đông-Xuân
Giữa tháng 12-1974, Bắc quân
mở giai đoạn đầu chiến dịch Đông-Xuân. Họ đánh chiếm
hai thị xã phía đông bắc Sài Gòn. Mục đích những trận
chiến ấy đã rõ. Họ định cô lập Sài Gòn bằng cách cắt
mọi đường quan trọng đi vào thủ đô việc mà trước kia
họ thường định làm.
Ở sứ quán, mọi người thống
nhất về mục tiêu chính của Bắc Việt nhưng không đồng
ý với nhau về mục tiêu phụ. Graham Martin cho là Bắc quân
sẽ đánh Tây Ninh, Tom Polgar và tôi (Frank Snepp) ngã về phía
Phước Long. Bắc Việt cũng đang đắn đo giữa hai nơi, việc
này chúng tôi không biết. Văn Tiến Dũng, người đưa quân
đội Bắc Việt vào Nam đến thắng lợi đã kể lại chuyện
này trong tập hồi ký ông viết sau chiến tranh. Đầu tháng
12, từ nhiều ngày, tướng Dũng và bộ tham mưu đã nghiền
ngẫm kế hoạch, đến ngày thứ tư, một sự kiện xảy ra,
làm họ chú ý.
Một nhân viên tình báo(1)của
họ nằm ngay trong giới thân cận của Thiệu gửi cho họ một
báo cáo tuyệt mật về nhận định của chế độ Sài Gòn.
Đó là biên bản một cuộc họp quan trọng trong hai ngày 9
và 10-12-1974 ở Sài Gòn nhằm tìm hiểu ý đồ của Hà Nội.
Sau cuộc họp, Thiệu và các sĩ quan của ông ta thống nhất
nhận định rằng, trong những tháng sắp tới, Bắc quân sẽ
mở cuộc tấn công quan trọng hơn vào năm 1974 nhưng chưa lớn
bằng cuộc tấn công năm 1968. (trận Mậu Thân đúng như
tin
do Polgar và tôi báo cho Nam Việt Nam 15 ngày trước).
Nhân viên tình báo ấy cũng báo
tin là Thiệu đã đi đến kết luận rằng quân đội Bắc
Việt Nam không thể đánh chiếm và giữ những thành phố quan
trọng được, họ nhằm hướng chính là Quân khu III,
chủ đích là Tây Ninh (dự đoán của Martin) và họ chỉ
tiếp tục tấn công cho đến tháng 6, hết mùa khô. Sau đó,
họ ngừng để lấy lại sức và củng cố, vẫn theo nhân
viên tình báo này, Thiệu cũng căn cứ vào sự phân tích của
bản thân, quyết định không gửi quân tiếp viện cho Quân
đoàn II ở cao nguyên, mà trái lại tập trung lực lượng phòng
thủ ở phía nam.
Không khó khăn gì để nhận
ra sự mừng rỡ của Hà Nội khi được đọc biên bản nói
trên. Họ đã rõ Thiệu nhận định như thế nào, họ có thể
thảo được kế hoạch. Vì Thiệu cho là muốn đánh Tây
Ninh thì phải đánh Phước Long, Thiệu không tin họ tấn
công cao nguyên.
Họ lại được tin chắc chắn
là Hoa Kỳ không can thiệp để cứu vãn đồng minh. Họ còn
một vũ khí mới nữa, sự ủng hộ của đồng minh duy nhất,
quyết định thắng lợi hay thất bại. Lần đầu tiên kể
từ ngày ngừng bắn, Liên Xô, đồng minh lớn của Hà Nội,
sẵn sàng ủng hộ một chính sách tấn công giải phóng miền
Nam. Cuối tháng 12, trước khi tấn công Phước Long, người
đứng đầu lực lượng vũ trang Liên Xô, Đại tướng Viktor
Kulikov bay đến Hà Nội.
Polgar và tôi báo ngay cho giám
đốc CIA biết. Chúng tôi không làm thế nào mà nắm được
những vấn đề Kulikov thảo luận với Hà Nội. Điều quan
trọng đối với chúng tôi (tôi nhấn mạnh điểm này trong
một bức điện) là cuộc viếng thăm Bắc Việt Nam tương
tự như trước đây của một vị tướng Liên Xô hồi năm
1971, diễn ra trước cuộc tấn công lớn (Mùa hè đỏ lửa
72) của Hà Nội. Thật vô ích nếu nói rằng Polgar bắt buộc
phải nhắc lại cho Hoa Thịnh Đốn biết tình hình hiện nay
có thể giống y hệt như trường hợp trước. Nhưng những
người phân tích tin của CIA ở Washington và bộ ngoại giao
không đồng ý với nhận định trên. Họ cho là cuộc viếng
thăm của Kulikov chỉ là một cuộc viếng thăm thường lệ.
Sau này họ thấy rõ chúng tôi lập luận đúng. Những tuần
sau khi Kulikov đến thăm Việt Nam, khối lượng thiết bị quân
sự Liên Xô chở bằng đường biển tới Bắc Việt tăng gấp
bốn lần, Mátxcơva đã ủng hộ hết mức cuộc tấn công
cuối cùng của Hà Nội...Giữa tháng 1-1975, Bộ chính trị
họp ở Hà Nội để dựng kế hoạch đánh chiếm Ban Mê Thuột,
Các ông Lê Duẩn và Lê Đức Thọ quyết định phải có một
ủy viên bộ chính trị chịu trách nhiệm hoàn toàn. Người
được chọn là Đại tướng Văn Tiến Dũng.
Trong khi ấy ở ngoài mặt trận,
có một sự yên tĩnh bất ngờ. Vì nếu sự yên tĩnh là một
sự đánh lừa thì đồng thời nó cũng là một sự cần thiết,
sau khi đánh chiếm được Phước Long họ đang đổi hướng
tấn công. Quân lính của họ phải có thì giờ thở rồi mới
có thể tiến về thị xã Ban Mê Thuột trên cao nguyên được.
Bộ tổng tham mưu Nam Việt Nam không phải là không biết những
cuộc hành quân của đối phương. Mấy ngày gần đấy, sĩ
quan tình báo của quân đội Nam Việt Nam ở Quân khu II đã
khám phá được nhiều dấu hiệu chứng tỏ có những hoạt
động ấy.
Và, cũng lúc ấy, nhân viên tình
báo của chính phủ ở Quảng Đức, phía nam thị xã Ban Mê
Thuột báo cho chúng tôi biết sự có mặt của nhiều đơn
vị quan trọng quân đội Bắc Việt Nam ở Campuchia, bên kia
biên giới. Dường như họ muốn đánh Quảng Đức…
(Decent Interval - Frank Snepp)
|
Frank Snepp là nhân viên CIA chi
nhánh SàI Gòn và
là trưởng bộ phận phân tích
tin tức của tòa đại sứ Mỹ.
Decent Interval (Cuộc tháo
chạy tán loạn) là tên cuốn
hồi ký của Frank Snepp kể về
những ngày cuối cùng
của Sài Gòn năm 1975. |
(1) Đinh
Văn Đệ, điệp viên chiến lược trong vai Chủ tịch ủy ban
quốc phòng hạ viện Sài Gòn. Theo chỉ thị của Phạm Hùng,
ông Đệ từng gặp Chuẩn tướng Trần Đình Thọ TP3/BTTM VNCH
để tìm hiểu VNCH có ý định chiếm lại Phước Long hay không.
Chiến lược hai năm…
Tướng Nga Viktor Kulikov, phụ
tá bộ trưởng quốc phòng tới Hà Nội thúc đẩy Bắc Việt
tấn công xâm chiếm miền Nam và hứa giúp thêm vũ khí đạn
dược. Cuối tháng 10-1974 Bộ chính trị Bắc Việt quyết định
kế hoạch tác chiến năm 1975: “Quyết tâm chiến lược của
Bộ chính trị được thể hiện trong kế hoạch chiến lược
2 năm (1) 1975-1976, Năm 1975, tranh thủ
bất ngờ, tiến công lớn và rộng khắp, tạo điều kiện
để năm 1976 tiến hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa,
giải phóng hoàn toàn miền Nam". (*** Ðại thắng mùa xuân,
trang 29)
Tháng 10-1974, Bộ tổng tham mưu
Bắc Việt đã trình bày kế hoạch tác chiến lên Bộ chính
trị và Quân ủy trung ương chọn chiến trường cao nguyên
(2)
làm
chủ yếu: "Khi thảo luận kế hoạch tác chiến chiến lược
năm 1975, một vấn đề rất quan trọng nữa được đặt ra
là chọn chiến trường chủ yếu ở đâu? Trên toàn chiến
trường miền Nam, địch bố trí lực lượng theo thế “mạnh
ở hai đầu”. Cụ thể là ở Quân khu I tiếp giáp với miền
Bắc xã hội chủ nghĩa, địch có 3 sư đoàn chủ lực, ở
Quân khu III, trong đó có tuyến phòng thủ ngoài bảo vệ Sài
Gòn, địch có 3 sư đoàn, nhưng chúng còn có thể sẵn sàng
cơ động 1-2 sư đoàn trong số 3 sư đoàn ở Quân khu IV về.
Còn ở Quân khu II, trong đó có
Tây Nguyên, địch chỉ có 2 sư đoàn chủ lực, lại
phải rải ra vừa giữ các tỉnh Tây Nguyên, vừa phải bảo
vệ các tỉnh duyên hải Nam Trung bộ từ Bình Ðịnh đến
Bình Thuận. Tây Nguyên là một chiến trường có nhiều thế
lợi để phát triển về phía nam theo đường số 14 hoặc
xuống phía đông theo các đường số 19, 21.
Hội
nghị nhất trí thông qua phương án của Bộ tổng tham mưu,
chọn chiến trường Tây Nguyên làm hướng chiến trường chủ
yếu trong và rộng khắp năm 1975". (*** Ðại thắng mùa xuân,
trang 24)
Như thế Bắc Việt đã chuẩn
bị đánh Ban Mê Thuột từ bốn tháng trước ngày tấn công
trong khi ta không có một nhận định hoặc tin tức tình báo
nào rõ rệt. Bắc quân nghi binh đánh Pleiku để nhử ta lên
giải tỏa rồi cắt các đường dẫn đến Ban Mê Thuột. Bắc
quân cắt các đường 14, 19, 21 nhử quân đội VNCH về phía
bắc để bất thần tấn công Ban Mê Thuột.
Ngày 1-3-1975, Sư đoàn 968 địch
pháo kích phi trường Cù Hanh, Pleiku.
Ngày 4-3, Trung đoàn 95B và Sư
đoàn 3 Sao Vàng tấn công ngăn chận Quốc lộ 19 tại An Khê
như muốn tấn công Pleiku, cắt đường giao thông Pleiku và
Nha Trang.
Ngày 5-3, Trung đoàn 25 cắt Quốc
lộ 21 giữa Phước An và Khánh Dương, cắt đường Nha Trang-Ban
Mê Thuột.
Ngày 9-3, Sư đoàn F10 nhất định
san bằng quận Đức Lập để tiến quân về Ban Mê Thuột.
Từ 6 giờ sáng, pháo binh bắn và sau đó quân chính qui mở
trận địa chiến đánh ban ngày, các công sự phòng thủ bị
sập. Các đồn phụ đã bị "bứt", tiểu đoàn địa phương
quân đóng tại Núi Lửa cách Đức Lập 9 cây số bị địch
tràn ngập sau một trận đánh đẫm máu.
(Nguyễn Định)
Chiến trường Tây Nguyên
Ngày 8-1-1975, Bộ chính trị trung
ương đảng lao động Việt Nam đã dự định trong kế hoạch
tấn công: “Sẽ bắt đầu tổng công kích miền Nam vào mùa
xuân năm 1975 và trong vòng 2 năm, giữa năm 1976 sẽ giải phóng
hoàn toàn miền Nam". Tóm lại, cuộc tấn công Ban Mê Thuột
vào tháng 3-1975 đã chính thức mở màn cho chiến dịch tổng
tấn công này.
Tháng 2-75, để thực hiện cuộc
tổng tấn công, Văn Tiến Dũng đã bí mật rời khỏi Hà Nội
vào Nam bằng những con đường mòn bí mật mới được thiết
lập tại phía đông dãy Trường Sơn. Tại đây, Văn Tiến
Dũng đã trực tiếp chỉ huy những cuộc tấn công bất ngờ
vào Ban Mê Thuột và lúc đó ở chung quanh tỉnh Pleiku, một
trong các cứ địa hiểm yếu của miền Trung cũng đã bị
bao vây chặt chẽ bởi đại quân của Bắc Việt với mục
địch ngụy trang cho một cuộc tấn công chính thức vào đây
hầu phân tán sự phòng thủ của quân đội VNCH tại Ban Mê
Thuột. Tuy nhiên, có tới 3 sư đoàn quân Bắc Việt đã hiện
diện sẵn để chuẩn bị cho những cuộc tấn công bất ngờ
vào Ban Mê Thuột. Trong khi đó, thành phần chủ lực của VNCH
là Sư đoàn 23 được điều động về Pleiku để tiếp ứng
tạo thành một lực lượng phòng thủ hùng hậu duy nhất tại
đây.
Cùng thời điểm này, tại Quân
khu II bao gồm toàn thể miền Trung, quân VNCH đang hiện diện
với quân số tương đương với 2 sư đoàn nhưng Bắc Việt
cũng đã phối trí tại đây tới 5 sư đoàn. Với tương quan
lực lượng về quân số như vậy, dĩ nhiên là những trận
đánh sau đó vào Pleiku của quân Bắc Việt được coi như
sẽ dễ dàng tạo áp lực nặng nề cho quân đội VNCH. Hơn
nữa, Pleiku lại là một cứ điểm quan trọng của Bộ tư
lệnh Quân khu 2 VNCH nên ai cũng nghĩ rằng quân đội miền
Nam sẽ tử thủ để bảo vệ cứ địa này. Ông Thiệu bỗng
nhiên ra lệnh bỏ Pleiku và triệt thoái cao nguyên, rút hết
toàn bộ quân đội đang phòng thủ ở miền Trung về Nam. Ông
Thiệu đã nhận định vì Hoa Kỳ cắt giảm viện trợ nên
quân đội miền Nam đã không đủ vũ khí đạn dược để
chiến đấu cùng quân số hùng hậu của quân Bắc Việt. Sau
khi rút quân từ miền Trung, quân đội VNCH sẽ tập trung để
tạo thành tuyến phòng thủ bao bọc các nơi đông dân cư ở
ven biển và thủ đô Sài Gòn trong một chiến thuật triệt
để tử thủ phần đất miền Nam còn lại.
Thế nhưng, chiến thuật này
đã hoàn toàn thất bại vì đội quân triệt thoái của miền
Nam đã tựa như những mảnh băng sơn tan rả và bị chôn vùi
dưới cơn hồng thủy lánh nạn của người dân miền Trung
lúc đó thật hỗn loạn.Nói khác đi là quân đội VNCH đã
mất đi thế lực chiến đấu. Sự kiện này đối với Văn
Tiến Dũng chẳng khác nào một cơ hội bằng vàng vì bất
chiến tự nhiên thành và theo kế hoạch về một tình thế
khống chế toàn bộ miền Trung sẽ bắt đầu từ năm 1976
nay lại hoàn thành sớm hơn dự định. Vì vậy, Văn Tiến
Dũng đã ra lệnh cho toàn quân Bắc Việt truy kích ráo riết
các đường tháo lui của quân đội miền Nam.
(The Fall Of Sai Gon - Komori Yoshihisa)
Khi đồng
minh tháo chạy
Ngày 20-3, tôi nhận được điện
thoại vào 6 giờ sáng: “Anh qua tôi ăn quà sáng", tiếng ông
Thiệu bên kia đầu giây. Sớm như như thế này chắc có chuyện
gì đây? Tôi nghĩ. Tới nơi tôi thấy cái bàn ăn nhỏ đặt
sát bên cửa sổ trên hành lang lầu ba, địa điểm mà ông
cho rằng không bị CIA nghe lén. Vì chuyện gì bàn ở văn phòng
ông hay phòng họp là bị nghe lén. Ông cho biết như vậy. Khi
người giúp việc rời xa bàn, Ông Thiệu nghiêm giọng nói:
5 trong 7 sư đoàn trừ bị Bắc
Việt đã vào tới miền Nam. Như vây tổng cộng là 19 sư đoàn
trang bị đầy đủ gần một ngàn xe tăng và trọng pháo. Hôm
qua xe tăng Bắc Việt đã vượt sông Thạch Hãn đánh chiếm
Quảng Trị và bắt đầu pháo kích vào Huế.
Ông Thiệu không nói gì tới
vụ rút Pleiku, bỏ Ban Mê Thuột và những cuộc họp mới đây
với thủ tướng Khiêm, đại tướng Viên, trung tướng Quang,
trung tướng Trưởng, thiếu tướng Phú.
Lúc tôi bắt đầu ăn tô phở
thì ông lấy bút ra viết trên trang giấy. Dường như là để
thuyết phục chính bản thân mình. Tôi hiểu ngay là ông đang
tính toán để đi tới một quyết định nào đó.
Viết xong, ông nói: Mình phải
đặt câu hỏi với Hoa Kỳ "oui ou non" (có hay không) buộc họ
phải dứt khoát có muốn giúp nữa hay không. Mình không thể
chờ lâu hơn được nữa. Rồi đây sẽ quá muộn để Hoa
Kỳ không thể dùng cái lập luận “sự đã rồi” để lấy
cớ bảo tôi rằng “Sorry, it is too late to intervene…” (Rất
tiếc đã quá muộn để can thiệp).
(Nguyễn Tiến Hưng)
Bên lề
trận chiến
Trận chiến
Đức Lập không nằm trong Tạp ghi sau 40 năm. VÌ qua 52
ngày trận chiến, người sưu tầm lấy cái mốc thời gian
khởi đầu với Ban Mê Thuột kể từ ngày 10-3-1975.
- :
Đưc Lập cách Ban Mê Thuột khoảng 10 km về phía tây. Ngày
9-3-1975, Bắc quân đánh Đức Lập để thăm dò. Một ngày
sau Bắc quân đánh phi trường Phụng Dực và Ban Mê Thuột.
Quân sử ngoại truyện
(…) Tôi là người chiến binh
đã trực tiếp trải qua chiến tranh. Bây giờ xem sách báo
đều thấy nói Chiến dịch mùa xuân năm 1975 trải qua 55 ngày
đêm ta giành toàn thắng. Tôi đã tự nhẩm tính nếu tính
từ 10-3 là ngày ta tiến công giải phóng Buôn Ma Thuột, đến
ngày 30-4 thì chỉ có 52 ngày. Còn nếu tính từ ngày 4 tháng
3 (trận đánh trên Quốc lộ 19 tại An Khê như muốn tấn công
Pleiku) theo từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam năm 2004, trang
197, phần “Chiến dịch Tây Nguyên" thì
phải là 58 ngày đêm. Vậy con số 55 ngày đêm là bắt đầu
tính từ ngày nào?
Tôi đã đếm đi tính lại nhiều
lần nhưng dù ngày bắt đầu chiến dịch được tính là 4-3
hay 10-3 thì con số cũng không phải là
55 ngày đêm như lâu nay vẫn ghi trong sách báo. (…)
(Nguyễn
Văn Việt) |
Ngày
thứ 1
Trận chiến
Ban Mê Thuột
Ngày 10-3-1975,
khoảng 2 giờ sáng, ba Sư đoàn 316, F10, 320 gồm ba mũi tấn
công Ban Mê Thuột phối hợp với đặc công đã nằm trong
thị xã cùng với chiến xa T54 và các loại trọng pháo nã
pháo đại bác 130 ly, hỏa tiển 122 ly vào các cứ điểm quân
sự. Trong một đêm bộ đội Bắc Việt
đã đưa được một lực lượng đông đảo 12 trung đoàn
gồm 9 trung đoàn bộ binh và các trung đoàn xe tăng, pháo binh,
phòng không vào trận địa.
Lực lượng
của quân lực VNCH tại Ban Mê Thuột lúc bấy giờ không quá
một nghìn người, gồm hậu cứ của Bộ tư lệnh Sư đoàn
23 Bộ binh, hậu cứ Bộ chỉ huy Thiết đoàn 8 mà quân số
chủ lực của các đơn vị này đã được điều động về
Pleiku từ trước Tết chưa được trả về từ Tết Ất Mão
1975. Trong thị xã, ngoài các đơn vị địa phương quân, chỉ
có những thành phần quân nhân lo về tiếp liệu như các đơn
vị quân cụ, công binh, truyền tin, v…v….
Nói theo nghĩa
khác Ban Mê Thuột trong khoảng thời gian này không lực lượng
bảo vệ.
12 giờ trưa,
địch quân mở đợt pháo kích dồn dập vào bộ chỉ huy tiểu
khu, bản doanh bộ tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh. tiểu khu Ban
Mê Thuột mất!
4 giờ chiều,
Bắc quân chiếm thị xã Ban Mê Thuột, ngoại trừ khu vực
bộ tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh còn được trấn giữ...
6 giờ chiều,
thành phố bấy giờ như một bãi tha ma, chứa đầy tử khí.
Những đống tro tàn của nhiều khu phố bị cháy, bụi khói
và gạch vụn gợi cho người ta cái cảm xúc của một chiến
trường tàn cuộc lạnh lẽo rợn người
(Trọng Đạt
- Nguyễn Định – SQTB K10B/72)
Bên lề
trận chiến
Ngày 10-3-1975,
Bắc quân tấn công Ban Mê Thuột. Tổng thống Nguyễn văn Thiệu
họp Hội đồng an ninh quốc gia duyệt xét kế hoạch bỏ 6
tỉnh miền Trung, từ Quảng Trị đến Bình Định.
Ngày 11-3, tổng
thống Thiệu mời các tướng Trần Thiện Khiêm, Cao Văn Viên,
Đặng Văn Quang ăn sáng tại dinh Độc Lập và sau đó trình
bày ý định muốn cắt bỏ bớt lãnh thổ cho vừa với mức
viện trợ quân sự của Hoa Kỳ. Tướng Viên ghi lại cảm
nghĩ của ông lúc đó: “Quyết định của tổng thống
Thiệu cho chúng tôi thấy đây là một quyết định ông đã
suy xét thận trọng. Hình như tổng thống Thiệu đã ngần
ngại về quyết định đó, và bây giờ ông chỉ thổ lộ
cho ba người chúng tôi trong bữa ăn sáng…”. (*** Cao Văn
Viên, The Final Collapse, trang 129-131).
(Nguyễn
Kỳ Phong)
Khi đồng
minh tháo chạy
Sau khi phái đoàn quốc hội Hoa
Kỳ tới Sài Gòn quan sát và tìm hiểu tại chỗ nhu cầu VNCH
để cứu xét vụ quân viện 300 triệu. Tin từ Ngũ giác đài
cho hay cơ nguy là không có hy vọng gì để có quân viện. Ông
Thiệu tỏ ra tuyệt vọng. Phái đoàn quốc hội Hoa Kỳ vừa
rời Sài Gòn,
Bắc Việt tấn công Ban Mê Thuột
2 giờ sáng ngày 10-3-1975.
Cùng ngày phái đoàn thượng
viện VNCH (ông Trần Văn Lắm) từ Washington về để vận động
cho biết không hy vọng 300 triệu và có thể không còn viện
trợ quân sự nữa.
Hôm sau, ngày 11-3, ông Thiệu
họp với thủ tướng Khiêm, đại tướng Viên và trung tướng
Quang thông báo quyết định tái phối tri.
Ngày sau đó, 13-3 quốc hội Hoa
Kỳ bỏ phiếu: Không có bất cứ viện trợ nào cho miền
Nam.
Hai ngày sau 15-3, Thiếu tướng
Pham Văn Phú bay về Nha Trang. Ông đã đi tiên phong của một
cuộc hành trình gian khổ đến bờ vực thẳm…
(Nguyễn Tiến Hưng)
Góp nhặt…ghi
chép…
Ngay sau khi
Bắc quân khởi sự tấn công Ban Mê Thuột, liên tiếp trong
3 ngày 10, 11 và 12-3-1975, Thiếu tướng Phạm Văn Phú đã nhận
nhiều lệnh của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, Thủ tướng
Trần Thiện Khiêm, và Đại tướng Cao Văn Viên.
Người đầu
tiên điện thoại hỏi tình hình là đại tướng Viên (7 giờ
sáng ngày 10-3-1975), tiếp đến thủ tướng Khiêm từ Đà Lạt
gọi lức 8 giờ 40, tổng thống Thiệu gọi lúc 10 giờ 10 và
19 giờ tối, trong ngày 11-3-1975. Lúc 15 giờ 30, đại tướng
Viên gọi điện thoại ra lệnh cho thiếu tướng Phú "bốc"
ngay Chuẩn tướng Lê Trung Tường, tư lệnh Sư đoàn 23 BB,
đang chỉ huy mặt trận phía
nam Pleiku "thả"
xuống Ban Mê Thuột để chỉ huy các cánh quân.
Sau đó, vào
lúc 5 giờ chiều, tổng thống Thiệu gọi lên Pleiku để nghe
thiếu tướng Phú báo cáo tình hình. Trong lần gọi vào 11
giờ đêm, tổng thống Thiệu ra lệnh cho tướng Phú với nội
dung:
“Linh động
trong mọi trường hợp. Không nên dồn hết quân cho mặt trận
Ban Mê Thuột. Tư lệnh quân đoàn được toàn quyền quyết
định, có thể bỏ Ban Mê Thuột. Cần phải tránh sa lầy vì
có thể địch sẽ mở hai, ba mặt trận lớn nữa tại Quân
khu II. Tường trình chính xác về các sư đoàn Bắc Việt hiện
đang tham chiến tại Ban Mê Thuột".
Khi đồng
minh tháo chạy
Khi họp với ông Thiệu ở phòng
được gọi là "Phòng tình hình", trên bàn họp tôi thấy một
quyển sách móng, mở ra đọc đó là báo cáo của tướng Murray
phân tích tình hình ảnh hưởng vùng và quân khu với mức
quân viện nếu có được mà tôi tóm lược như sau:
- 1.4 tỷ giữ được cả 4 Vùng
chiến thuật.
- 1.1 tỷ QK1 phải bỏ.
- 900 triệu khó giữ được QK1
và QK2.
- 750 triêu chỉ giữ được Sài
Gòn và QK4.
(…)
- : Thực
tế, quyết định của ông Thiệu vào khoảng cuối năm 1974
đã được nghiên cứu từ trước (với Murray) chứ không phải
vội vàng như nhiều người vẫn phê phán. Chính bởi
những yếu tố đó nên khi Ban Mê Thuột mất, ông Thiệu liền
ra lệnh rút khỏi cao nguyên. (Vũ Tiến Đức)
Bên lề
trận chiến
Tài liệu của
CIA:“Kể từ cuối tháng 12-1973 đến đầu tháng 1-1974 tướng
John Murray và ban tham mưu của ông đã làm việc ngày đêm để
cố gắng tìm đáp số cho bài toán viện trợ quân sự. Nhưng
mỗi lần họ tìm ra một giải pháp để giải quyết vấn
đề thì lại phát sinh một vấn đề khác mà kết quả cũng
chỉ đưa tới bí lối". (***
Decent Interval, trang
95).
Cũng theo Frank
Snepp, ngày 16-8-1974, John Murray họp buổi họp chót với Đại
tướng Cao Văn Viên, tổng tham mưu trưởng, và tướng Đồng
Văn Khuyên, tổng cục trưởng tổng cục tiếp vận. John
Murray khuyên tướng Viên nên liệu cơm gắp mắm, gấp rút
lên kế hoạch sẵn sàng bỏ Vùng 1, Vùng 2, và cả Vùng 3 để
về cố thủ Vùng 4.
Theo Nguyễn
Tiến Hưng, ông đã tình cờ trông thấy bản kế hoạch “cắt
đất theo lượng viện trợ”n,của Murray nằm trên bàn
của tổng thống Thiệu vào tháng 5-1974.
Như vậy Murray
chính là tác giả của kế hoạch bỏ Vùng 1, Vùng 2 vào năm
1975.
Một kế hoạch
mà cho tới 40 năm sau người ta vẫn cho là sáng kiến của
Nguyễn Văn Thiệu.
(Bùi Anh Trinh)
Khi đồng
minh tháo chạy
Ông Martin tường trình trước
quốc hội: 1974, chuẩn tướng người Úc tên Ted Sarong (1)
làm việc với Trung tướng Đặng Văn Quang và đi đến kết
luận là nên bỏ QK1 và QK2. Chỉ giữ tuyến từ Nha Trang tới
Tây Ninh. Theo ông Kissinger vào tháng 2-1975, ông Robert Thompson
(chuyên gia người Anh về chiến thuật du kích ở Malaysia) thăm
viếng Sài Gòn và làm cố vấn cho họ. Khi về ông báo cáo
với tổng thống Ford: Nếu Hà Nội đem những sư đoàn trừ
bị từ phía bắc vùng phi quân sự, (DMZ) vào, thì quân đội
VNCH sẽ mất ít nhất là sư đoàn dù, thủy quân lục chiến,
và 3 sư đoàn khác. Tất cả sẽ sụp đổ! chiến tranh sẽ
chấm dứt!
(…)
(1) Ngày
29-4-2000, nữ ký giả Marcella Bombardieri viết trên tờ Boston
Global một bài tựa đề “Nguyễn Văn Thiệu sống ẩn dật
ở Boston” về cuộc sống của ông Thiệu. Bombardieri nhắc
lại sử gia George Herring, một người chuyên nghiên cứu về
Việt Nam thuộc đại học Kentucky, đã phê bình ông Thiệu
về những tính toán chiến thuật nhầm lẫn vì nghe lời tướng
Ted Serong, một chuyên gia về du kích chiến của Úc, khi ông
ra lệnh triệt thoái khỏi cao nguyên.
(…)
Lạc đạn
(1)
Tù binh tại Ban Mê Thuột
(ảnh AFP)
Sau khi Bắc quân chiếm thành
phố Ban Mê Thuột (1), nhiều chuyện thật khôi hài, nhưng lại
rất thật đã xày ra trên thành phố này. Không hiểu sau này,
em út tôi lớn lên, đọc lại những điều tôi viết ở đây
có tin hay không, vì bây giờ là năm 1975, chỉ còn 25 năm nữa
là hết thế kỷ thứ 20.
Một số dân thành phố chạy
thoát khỏi thị xã, bộ đội chiếm những căn nhà này. Ban
Mê Thuột tuy là một thành phố nhỏ so với các thành phố
khác nhưng nhà cửa được xây dựng khoảng thập niên 60,
với lối kiến trúc có nhà tắm, nhà bếp, phòng khách rất
tiện nghi.
Một ngày, có 2 bộ đôi chiếm
dụng 1 căn nhà trên đường Hai Bà Trưng, ra chợ mua 2 con cá
lóc (do bạn hàng từ quận Lạc Thiện mang ra chợ Ban Mê Thuột
bán) đem về thả trong hầm cầu (toilet bowl). Ngày hôm sau,
cá biến mất, 2 bộ đội kết tội những nhà lân cận ăn
trộm cá của cách mạng, hàng xóm hết cả hồn vía.
- Ai đã vào nhà ăn trộm cá,
phải thành thật khai để được khoan hồng.
Hàng xóm sợ quá đành đứng
chịu trận để cho cán bộ thóa mạ, mãi 1 lúc khá lâu, có
cụ H. đã ngoài 60 tuổi, lấy hết can đảm hỏi cán bộ:
- Thưa cán bộ nhốt cá ở đâu
mà bị mất trộm?
- Đây, vào đây chỉ cho, cán
bộ cách mạng không bao giờ nói láo.
Cụ H. vào nhà mới hay cán bộ
đã nhốt cá ở…Cán bộ lại còn khen, nước trong thùng này
mát lắm. Cụ dở khóc dở cười và gỉai thích cho cán bộ
đó là…cái bồn đi cầu.
(Ban Mê Thuột những ngày đầu
- Nguyễn Định)
(1) Lạc
đạn
là những tiết mục…"lạc lõng – lạc đề"
trong
Tạp ghi sau 40 năm.
- : Xem
tiếp "cà rem phơi khô" và "TV chạy đầy đường” qua bài
viết "30 tháng 4! Ký ức của một người chưa cầm súng",
tiêt mục Ngày thứ
49 - Tân Cảng-Sài Gòn 27-4-1975. |
Ngày
thứ 2
Ban Mê Thuột
thất thủ
Ngày 11-3, 8
giờ sáng, giờ phút của định mệnh, và cũng là khởi đầu
ngày thứ hai trong trận đánh quyết định giữa hai miền Nam-Bắc
1975. Chiến trường Ban Mê Thuột coi như kết thúc với
sự tràn ngập
của bộ đội Bắc Việt.
Hơn 10 giờ
sáng, thình lình mọi người nghe một tiếng nổ ầm thật
kinh hoàng. Bộ tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh đã bị không quân
ném nhầm. Trung tâm hành quân Sư đoàn 23 BB bị sập và các
hệ thống liên lạc đều bị hư hại toàn bộ. Đại tá Vũ
Thế Quang, tư lệnh phó Sư đoàn 23 BB, kiêm tư lệnh mặt trận
Ban Mê Thuột rút khỏi bộ tư lệnh Sư đoàn để bảo toàn
lực lượng. Đến xế trưa, bên cạnh đại tá Quang chỉ còn
có người thiếu úy, sĩ quan tùy viên và một người lính.
Không thể đi tới được phi trường Phụng Dực và cũng không
còn phương tiện truyền tin để liên lạc, ba người nhắm
hướng nam đi về phía Quảng Đức.
11 giờ 50,
ngày 11-3, bộ tư lệnh Quân đoàn II mất liên lạc với đại
tá Quang.
Nhưng tại
phi trường Phụng Dực, một trung đoàn của Sư đoàn 23, với
2 tiểu đoàn của Trung đoàn 53 Bộ binh, một chi đoàn thiết
vận xa M113, một pháo đội đại bác 105 ly vẫn tiếp tục
chiến đấu thêm một tuần lễ nữa.
(Phạm Huấn
– Trọng Đạt – SQTB K10B/72)
Minh tu sạn đạo, ám độ
trần thương
Dù cấp nhỏ, nhưng tôi vẫn
cố gắng phân tích theo nhãn quan của tôi để mình còn nước
còn tát trong việc giữ Ban Mê Thuột, vùng trách nhiệm của
mình. Nhìn qua những mũi tên và những đơn vị của Bắc quân,
theo như bản phối trí của Quân đoàn 3 Bắc Việt:
Phi trường Phụng Dực, Đức
Lập
Các Sư đoàn 320, F10, 316 của
Bắc quân vẫn còn ở phía tây Pleiku và Kontum. Những tin tức
các sư đoàn này đã về Ban Mê Thuột vẫn chưa được quân
đoàn xác nhận, vẫn còn phải theo dõi và kiểm chứng, nói
theo phòng 2 của quân đoàn.
Tôi tiên đoán, Ban Mê Thuột
sẽ là nơi thử lửa đầu tiên cho việc tiến chiếm miền
Nam. Bằng chứng là họ đã chặt tay chân của Ban Mê Thuột
bằng cách nhổ cứ điểm Đức Lập coi như đứt đoạn. Vì
vậy, tôi đã nhiều lần xin tướng Phú tăng cường quân bằng
cách đưa Trung đoàn 45 BB về phòng thủ Ban Mê Thuột.
Với nhiều lần xin quân viện,
mãi đến ngày 4-3-1975, tướng Phú mới bằng lòng cho Trung
đoàn 45 về Ban Mê Thuột. Lệnh di chuyển đã được ban hành,
2 giờ chiều cùng ngày, toàn thể đơn vị thuộc Trung đoàn
45 đã ngồi lên xe GMC để chờ lệnh Chuẩn tướng Lê Trung
Tường, Tư lệnh Sư đoàn 23 BB là xe chuyển bánh. Không ngờ
vừa lúc đó, pháo kích của Bắc quân rót vào thị xã Pleiku,
vào bộ tư lệnh Quân đoàn II. Tướng Phú đang ở Nha Trang
được báo cáo của tham mưu trưởng Quân đoàn II về việc
pháo kích này, đã không ngần ngại hét vào máy:
”Tôi ra lệnh cho Trung đoàn
45 BB không di chuyển về Ban Mê Thuột nữa, ở lại Pleiku vì
mặt trận Pleiku đã bùng nổ rồi".
(Nguyễn Trọng Luật)
Đại tá Nguyễn Trọng Luật,
tỉnh trưởng Darlac.
Quân đoàn 3 tại Vùng 2 chiến
thuật
Quân đoàn 3, còn gọi là Binh
đoàn Tây Nguyên gồm 3 sư đoàn bộ binh F10, 316, 320A, trung
đoàn xe tăng 273, trung đoàn pháo binh 40 và 575, trung đoàn đặc
công 198, trung đoàn phòng không 232, 234 và 593, các trung đoàn
công binh 7 và 576,…v…v…
Sư đoàn F10 (ở nam Lào qua) và
mới từ quận Đức Lập kéo về Ban Mê Thuột.
Sư đoàn 316 (từ Nghệ An vào)
Tổng cộng khoảng 5 sư đoàn.
Tại Pleiku có Sư đoàn 3 Sao Vàng
và Sư đoàn 968 bôn tạp từ Lào qua.
Bên lề
trận chiến
Theo sách Đại
thắng mùa xuân thì đêm 11-3-1975, Bắc quân bắt được
Đại tá Vũ Thế Quang, tư lệnh phó Sư đoàn 23 BB tại Ban
Mê Thuột. Ông này khuyên Văn Tiến Dũng nên đánh thẳng xuống
Nha Trang và Cam Ranh bởi vì giữa Ban Mê Thuột và Nha Trang chỉ
còn 1 trung đội địa phương quân (!)
đóng
tại đèo M’Drak.
2 giờ sáng
ngày 12-3, đi được khoảng 6 cây số đường rừng ngay khi
vưa tới sát một làng thượng, thì bị Bắc quân nổ súng,
xông ra vây bắt. Thấy đại tá Quang vẫn còn mang cấp bậc
trên cổ áo và xưng danh là tư lệnh phó Sư đoàn 23 Bộ binh,
chúng đã trói lại, lột giầy và liệng xuống hố. Chừng
một giờ sau, chúng được lệnh dẫn đại tá Quang đi suốt
đêm. Tới chiều hôm sau, ngày 13-3, được cởi trói, cho đi
giầy vào và chở đi bằng xe molotova sang Cam Bốt để khai
thác. Vùng rừng núi này, chắc chắn là nơi đặt bản doanh
bộ tư lệnh chiến trường Tây Nguyên 1975 của 2 tướng Bắc
Việt Văn Tiến Dũng và Hoàng Minh Thảo.
Trong suốt
thời gian bị điều tra, đại tá Quang bị khủng bố tinh thần,
cùm giữ hai chân trong hai thân cây lớn được khoét lỗ sẵn.
Đó có thể cũng là kết quả đưa đến những lời cung khai
của tư lệnh phó Sư đoàn 23 BB, như Văn Tiến Dũng đã viết
trong cuốn Đại thắng mùa xuân.
(Phạm Huấn)
Minh tu sạn đạo, ám độ
trần thương
Khoảng 2 giờ sáng ngày 10-3-1975,
khi Ban Mê Thuột còn đang trong giấc điệp, bỗng bị đánh
thức dậy bằng tiếng pháo kích inh tai, rợn óc của địch
quân. Tôi rất bình tĩnh vì đã nếm mùi hỏa tiễn của họ
ở những trận đánh trước…Từ lầu hai tôi chạy xuống
hầm chỉ huy, đây là một hầm rất kiên cố, làm bằng bê
tông cốt sắt. Trong hầm trang bị đầy đủ máy móc truyền
tin để liên lạc tới các đơn vị trực thuộc rất dễ dàng.
Tôi liên lạc ngay trưởng phòng 3 tiểu khu:
- Anh hãy gọi ngay pháo binh Sư
đoàn 23 BB tại Phụng Dực phản pháo.
Pháo 105 ly tầm tác xạ 15 km
Pháo 130 ly tầm tác xạ 27 km
- : Tuy
nhiên pháo 175 ly có tầm bắn từ 25 đến 27 km.
Tiếng pháo kích vang rền thị
xã Ban Mê Thuột cho đến 4 giờ sáng. Đạn pháo kích 130 ly
vẫn rót đều vào thị xã. Lý do dễ hiểu là pháo binh của
ta tại phi trường Phụng Dực phản pháo với đạn 105 ly đâu
có tầm xa như đạn 130 ly của họ. Vì vậy sự phản pháo
trở nên vô vọng, không thể khóa họng những khẩu đại
pháo của địch. Nhất là pháo binh của ta không có L19 hướng
dẫn, chỉ điểm, điều chỉnh chính xác.
***
Đến 7 giờ sáng, địch ngưng
pháo kích và cũng ngay lúc này trưởng ty cảnh sát Darlac báo
cáo thẳng với tôi:
– Thưa đại tá, chiến xa nó
đã tiến vào thị xã và hiện đang bố trí xung quanh nhà thờ
thị xã. (cũng nên ghi nhận là nhà thờ Công giáo này nằm
ở trung tâm thành phố).
Tôi liền báo cáo và xin tướng
Phú được qua chung ở với Đại tá Vũ Thế Quang, tại trung
tâm hành quân Sư đoàn 23 BB. Tướng Phú chấp thuận. Mối
lo ngại lớn lao của đại tá Quang và tôi là chiến xa của
họ đã lọt vào giữa thị xã. Với kinh nghiệm của một
sĩ quan kỵ binh tôi hiểu rất rõ hỏa lực tấn công của
những con ngựa sắt này.
Sự chênh lệch về lực lượng
ta và địch quá rõ. Địa phương quân phải so tài với quân
chính qui Bắc Việt, với sự yểm trợ chiến xa và pháo binh.
Còn bên ta, pháo binh tại Phụng Dực, cũng như phi pháo không
thể yểm trợ. Một phần vì dân chúng chưa được di tản.
Cộng thêm, hỏa lực phòng không của địch dày đặc, làm
phản lực cơ A37 của ta cũng không thể xuống thấp để thả
bom cho chính xác được.
2 giờ 45, trưởng phòng 3 tiểu
khu báo cáo: Một trái đã đánh trúng hầm TOC/TK.
1 giờ 30, trưởng phòng 3 tiểu
khu lại báo cáo: Chiến xa tràn ngập hệ thống phòng thủ.
(…)
Góp nhặt…ghi
chép…
Chiều ngày
15-3 tại chi khu Phước An của tiểu khu Đắc Lắc, trưởng
phòng tình báo Quân đoàn II là Đại tá Trịnh Tiếu nhờ Thiếu
tá Phạm Huấn, đặc phái viên của tướng Phạm Văn Phú,
báo lại cho tướng Phú (đang ở BTL/Quân khu II tại Nha Trang)
rằng quân Bắc Việt tại Ban Mê
Thuột có 4 sư đoàn, đang tràn về Nha Trang. Trong khi tình
hình Quân khu II lâm vào cảnh hiểm nghèo như thế thì hồi
ký của tướng Viên không hề có lấy một dòng đả động
tới việc ông đã ra lệnh như thế nào hoặc làm gì
để giúp tướng Phú trong suốt khoảng thời gian từ khi trận
Ban Mê Thuột bắt đầu nổ ra cho tới ngày quân Bắc Việt
thanh toán xong Ban Mê Thuột và bắt đầu tràn xuống Phú Bổn.
Tướng
Viên không giúp gì tướng Phú để tái dựng lại cầu sông
Ba.
(Bùi Anh Trinh)
Minh tu sạn đạo, ám độ
trần thương
2:00 giờ, BCH/TK coi như thất
thủ hoàn toàn. Tôi liền báo cáo cho tướng Phú. Tướng Phú
ra lệnh cho trực thăng vận Liên đoàn 21 Biệt động quân
xuống Ban Mê Thuột.
Đến mãi 6 giờ, Quân đoàn II
mới quyết định cho thả Liên đoàn 21 BĐQ xuống BCH/CK Buôn
Hô rồi đi bộ tiến vào thị xã Ban Mê Thuột. Tôi liên lạc
với chỉ huy trưởng Liên đoàn 21 BĐQ, hối thúc phải cho
tiến quân nhanh vào thị xã để tái chiếm lại BCH/TK.
Mãi đến 11 giờ khuya, họ cho
biết rằng đã tới ven thị xã Ban Mê Thuột mà không tiến
vào được vì bị địch chặn đánh. Tôi theo dõi cuộc tiến
quân của Liên đoàn 21 BĐQ từng phút, cứ 15-20 phút là tôi
liên lạc với họ hỏi coi đã tiến tới đâu rồi. Vẫn những
câu trả lời ngắn gọn: ”Đang tiến nhưng gặp nhiều ổ
kháng cự”.
Tôi chờ đợi Liên đoàn 21 BĐQ
tiến vào thị xã, 2 giờ sáng ngày 11-3, rồi 3 giờ, rồi 4
giờ cho đến hừng sáng Liên đoàn 21 BĐQ cũng không tiến
vào được.
7 giờ sáng ngày 11-3, Bắc quân
bắt đầu nã pháo binh vào Bộ tư lệnh Sư đoàn 23, Tôi đoán
chắc rằng họ đang cho pháo binh bắn vào vị trí BTL/SĐ23
để chuẩn bị tấn công. Tôi nói với đại tá Quang, lúc
này là lúc nguy ngập, sắp cận chiến.
Lúc này khoảng 7 giờ 30 sáng.
Tôi đi thẳng ra cửa BTL/SĐ thấy ngoài cổng BTL khoảng cách
độ 300 m đầy chiến xa T54 đã bao xung quang BTL. Tiếng máy
kêu ầm ầm và các chiến xa đâm thẳng vào cổng bộ tư lệnh.
Những con cua sắt ì ạch tiến gần cổng 250 m, rồi 200 m,
rồi 100 m. Chiến xa địch đầu chầm chậm tiến thẳng vào
thiết vận xa M113. May mà ngụy trang nên chúng không thấy.
Tôi mừng quá và nói thầm trong bụng: "Mày sẽ chết con ạ"…
Thần kinh tôi như giãn ra. Tất cả anh em chúng tôi hồi hộp,
giờ sinh tử bắt đầu. Khói đen từ ống thoát phun ra mù
mịt, chiến xa T54 địch, chiếc đầu chầm chậm tiến vào.
Chúng vẫn chưa biết có chiếc M113 đang chờ đón nó vào cửa
tử, vì được ngụy trang kỹ càng như đã nói trên. Tôi hét
lớn "Bắn!". Thay vì chúng tôi phải nghe tiếng nổ thật lớn
của viên đạn vút ra khỏi nòng súng, thì trái lại cây súng
chỉ cho chúng tôi một tiếng khô khan, lãng xẹc: "Cóc!".
Trong khi mắt mọi người và
tôi dán chặt vào những con cua sắt. Tôi gào lên:
– Gì thế! Gì thế!
Xạ thủ trả lời:
– Trở ngại tác xạ, đại
tá!
– Mở "culasse" ra xem?
– Trình đại tá, "percuteur"
bị gẫy!
– Có "percuteur" thay thế không?
– Thưa… không!
(…)
Chuyện kể
thời hậu chiến
Gần nhà em
có một chú tử sĩ, chú bị cụt đầu.
Sáng nào chú
cũng đi qua nhà em để ăn sáng.
Minh tu sạn đạo, ám độ
trần thương
Tiếng: "Thưa không" làm tôi toát
mồ hôi, vì đây là hy vọng cuối cùng cho sự cầm cự với
họ để chờ viện binh tới. Bây giờ tiêu diệt chiến xa
địch bằng phương tiện gì đây? À phải rồi, chúng ta còn
oanh tạc cơ đang bay lượn trên không. Những chiếc phản lực
cơ A37 sẽ xơi tái chúng một cách dễ dàng. Tôi liên lạc
ngay với L19 và nói chấp nhận sự nguy hiểm để dùng phản
lực cơ dội bom thẳng vào các chiến xa đang tiến vào Bộ
tư lệnh Sư đoàn 23 BB, và như vậy mới chặn đứng cuộc
xung phong của họ. Trong lúc chờ đợi phi cơ làm thịt mấy
con "cua sắt". Thình lình, mọi người nghe một tiếng nổ "ầm"
thật khủng khiếp vang dội cả một góc trời. Cát, đá, bụi
tung lên cao cả hàng trăm thước. Thôi rồi! Trung tâm hành
quân sư đoàn nơi đầu não để chống lại địch quân đã
bị không quân ta đánh trúng.
TOC bị sập và các phương tiện
truyền tin thiết trí trong đó đều tiêu tùng theo mây khói.
Ai cũng biết, trong trận mạc, truyền tin là huyết mạch chính.
Bây giờ không còn để liên lạc với cấp trên và thông tin
cho cấp dưới nữa. Không một chút suy nghĩ, tôi nói nhanh
với đại tá Quang:
– Không thể cố thủ được
nữa. Không có truyền tin, chiến xa làm sao chận đứng những
chiến xa T54 và bộ binh đang tiến vào căn cứ. Trong khi đó
chúng ta không có viện binh. Tồi đề nghị chúng ta rút ra
khỏi vị trí phòng thủ BTL sư đoàn ngay để bảo toàn lưc
lượng còn lại.
Đại tá Quang đồng ý và ra
lệnh rút quân. Chúng tôi vọt ra khỏi hàng rào và hướng
về phía tây tức là "suối Bà Hoàng". Cũng may mùa này là
mùa khô nên suối cạn. Đáy suối lại thấp hơn mặt đất
tới 15 m nên rất dễ cho việc ẩn nấp. Anh em binh sĩ đi theo
chừng 100 người. Xa xa tiếng phát thanh tuyên truyền của địch
quân gần chùa Phật giáo của Tỉnh hội Phật giáo Ban Mê
Thuột kêu gọi các binh sĩ ta đầu hàng. Chúng tôi tiếp tục
di chuyển…
Hình ảnh lê thê lếch thếch
của đoàn quân như khúc phim trên màn bạc cho trận Thế chiến
thứ hai, trận Dunkerque năm 1940, mà lực lượng đồng minh
phải bỏ thành phố vì bị Đức tràn ngập. Lúc đó họ còn
thiết giáp, nhưng thiết giáp của Đức tối tân hơn nên phải
ra hàng. Họ chạy đến bờ biển và đã kiếm bất cứ phương
tiện nào như du thuyền, canô hay thùng phao để thoát. Còn
tôi bây giờ còn gì đây. Sinh ra làm lính thiết giáp mà bây
giờ di chuyển như lính bộ binh.
(…) |
Ngày
thứ 3
Chuẩn bị
tái chiếm Ban Mê Thuột : 12-3-1975
Ngày 12-3, Thiếu
tướng Phạm Văn Phú, tư lệnh Quân đoàn II quyết định tổ
chức cuộc đổ quân tăng viện để tái chiếm Ban Mê Thuột.
Thiếu tướng Phú rời bộ tư lệnh Quân đoàn II tới Ban Mê
Thuột vào khoảng 2 giờ chiều, Tướng Phú đã liên lạc với
các đơn vị đang chiến đấu ở quanh Ban Mê Thuột như Trung
đoàn 53 BB ở phi trường Phụng Dực, Liên đoàn 21 Biệt động
quân, các tiểu đoàn địa phương quân Darlac. Sau khi hoàn tất
việc điều động đợt đổ quân đầu tiên, Thiếu tướng
Phú giao trách nhiệm chỉ huy trực tiếp các cánh quân tái
chiếm Ban Mê Thuột cho Chuẩn tướng Lê Trung Tường, tư lệnh
Sư đoàn 23 BB, rồi ông trở lại Pleiku.
Trong buổi
chiều cùng ngày, cùng lúc gia tăng áp lực tại chiến trường
Ban Mê Thuột, thì tại Pleiku, từ những đỉnh cao phía tây-bắc
của thị xã này, Bắc quân quân đã pháo kích bằng hỏa tiễn
vào phi trường quân sự Cù Hanh và bộ tư lệnh Quân đoàn
II.
(Phạm Huấn
– Trọng Đạt – SQTB K10B/72)
Minh tu sạn đạo, ám độ
trần thương
Tôi bàn với đại tá Quang. Mình
phải phân tán mỏng để tránh sư phát giác của địch quân.
Tôi đề nghị: ”Toa” đi về một phía, “moa” một phía
và cố gắng tìm về Nha Trang. Đại tá Quang gật đầu và
chọn ngay cho mình một quyết định. Vị tư lệnh chiến trường
Ban Mê Thuột nói với tôi: "Moa sẽ đi về hướng nam, đến
gần cầu khoảng cách 14 km là tìm đường về Nha Trang". Còn
tôi không còn chọn lựa naò khác hơn là đi về hướng tây,
chờ trời tối sẽ bọc lên phía bắc Ban Mê Thuột và từ
đó tìm về Nha Trang.
Tôi rất ngao ngán cho việc vượt
thoát này. Nhưng không còn một con đường nào khác. Chúng
tôi bò tiến lên ngang mặt đất. Vưà lúc đó hàng loạt súng
cộng đồng nổ vang và nhắm vào đoàn người chúng tôi. Đạn
cày xới lên đất làm tung bụi mịt mù. Tiếng đại liên,
tiếng gào thét của chiến xa đang tiến về chúng tôi như
cuộc bủa vây đang thắt chặt. Tôi biết chúng tôi không thể
nào thoát trước một thế trận đường cùng này. Tôi bèn
bàn với thiếu úy Phương là nên đầu hàng. Thiếu úy Phương
cởi áo lót trắng và lấy cây đưa lên cao phẩy qua phẩy
lại để ra dấu hiệu đầu hàng. Lập tức súng đại liên
ngưng bắn và chiến xa tiến sát về phía chúng tôi khoảng
10 m, một cán binh nhảy ra khỏi chiến xa, với khẩu AK47 chĩa
thẳng vào chúng tôi và quát lớn:
– Tụi bay chức vụ, cấp bậc
gì??
Như cái máy, tôi trả lời:
– Tôi là đại tá tỉnh trưởng.
Hắn tròn xoe mắt lại và nghi
ngờ:
– Thật không? Thật không?
Tôi gật đầu và hắn hỏi
tiếp:
– Tên gì nói mau.
Tôi không ngần ngại:
– Nguyễn Trọng Luật.
– Thật không?
– Thật.
Hắn sững người và rất đỗi
ngạc nhiên. Hắn càng ghìm tay súng vào đầu tôi. Một cán
binh khác nhảy từ trên xe đến lột hết quần áo tôi. Trên
người tôi chỉ còn chiếc áo lót và chiếc quần treillis.
Chúng lấy hết súng lục, áo giáp, nón sắt, giầy boots và
luôn cả vớ. Chúng nhanh tay lấy giây trói chặt tay tôi ra
đằng sau. Chừng nửa giờ sau, một chiến xa khác tới. Một
cán binh mặt mũi sáng sủa nhảy ra khỏi chiến xa và tiến
tới tôi hỏi:
– Anh có thật là Đại tá
Nguyễn Trọng Luật, tỉnh trưởng Darlac không?
– Đúng.
– Thôi anh ngồi chờ, chốc
lát sẽ có xe đưa anh đi.
Khoảng 4 giờ chiều, một chiến
xa khác xuất hiện và bốc một mình tôi lên xe. Xe bắt đầu
di chuyển. Tôi có thể đoán chắc là chúng đi về hướng
tây để đến bộ chỉ huy của chúng.
(…)
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân
hồi
Tôi sinh năm 1943, vào mùa xuân
75, tôi là thiếu úy Sư đoàn 23 quân lực VNCH, đóng ở Pleiku
và Ban Mê Thuột. Khoảng tháng 3, tiểu đoàn tôi tiến vào
mật khu Quang Nhiêu, cách Ban Mê Thuột chừng mười bảy cây
số. Trong chiến dịch này, chạm trán một nhóm trinh sát Bắc
Việt, chúng tôi khai hỏa, giết chết bảy, bắt sống hai.
Một trong hai tên bị bắt là sĩ quan. Phía chúng tôi tổn thất
bốn. Cùng với việc bắt tù binh, chúng tôi cũng tìm được
nhiều tài liệu và tin tức quan hệ. Chúng tôi cho gửi ngay
các
tài liệu và tù binh về bộ chỉ huy.
Nhưng khi tiến thêm chừng một
cây số, chúng tôi có lệnh ngừng và rút quân, vì an ninh quân
đội khai thác tù binh, biết được có nhiều đơn vị quân
đội chính quy Bắc Việt lúc ấy chỉ đóng cách chúng tôi
hai ngày đường bộ. Nhưng sự thực, chúng chỉ cách địa
điểm chúng tôi có hai cây số, nếu tiến thêm chúng tôi đã
bị quét gọn rồi. Vì thế chúng tôi rút về Quang Nhiêu, ở
lại bảo vệ địa điểm này. Như vậy chúng tôi đã biết
thực lực địch quân. Chúng tôi hiểu tình hình nghiêm trọng,
nhưng tôi không nghĩ các sĩ quan ở tỉnh và tư lệnh vùng
biết được tình hình nghiêm trọng là đã có nhiều quân
chính quy Bắc Việt như vậy ở trong vùng.
Tình trạng rất phức tạp. Tiểu
đoàn chúng tôi gồm bốn đại đội. Đại đội tôi là Đại
đội 1, nhận lệnh trở lại Ban Mê Thuột, vào giữa thành
phố để yểm trợ các xe dầu của sư đoàn, Đại đội 2
đến đóng tại bộ chỉ huy Sư đoàn 23. Một đại đội khác
được gửi đến yểm trợ các căn cứ nhẹ của quân đoàn,
nhưng đã bị tiêu diệt toàn bộ. Đêm mùng 9 rạng ngày 10-3,
đại đội tôi có lệnh đến phòng vệ cây cầu trên đường
14 để giữ khai thông con lộ. Nhưng đêm ấy, quân Bắc Việt
pháo rất dữ, chúng tôi lâm tình trạng hết sức nguy kịch.
Tôi dẫn lính trở ra, nhưng quân cảnh yêu cầu chúng tôi trở
lại vị trí để chuẩn bị vì tình hình nghiêm trọng. Mọi
việc có vẻ không khá. Tôi nghĩ lúc ấy ai nấy đều biết
trước
một cuộc tấn công sẽ phải xảy ra.
(Larry Engelmann & Nguyễn Trường
Toại)
Ngồi ở
quán nhậu kể chuyện súng đạn
Gần nhà em
có một chú thương binh, chú đã bị thương hai lần.
Một lần
ở Buôn Mê Thuột và một lần ở đùi.
Minh tu sạn đạo, ám độ
trần thương
Tại trại tù Nam Hà, tôi được
biết đứa con út của tôi đã chết tại xã Châu Sơn cách
thị xã Ban Mê Thuột chừng hơn 3 km. Số là khi Bắc quân tràn
ngập, các con tôi đã theo chân những binh lính trong dinh chạy
trú ẩn tại nhà cha Tâm, cha sở xã Châu Sơ, một xã phần
đông là người Công giáo từ Bắc di cư vào Nam năm 1954, nên
có tinh thần chống Cộng cao độ. Bắc quân đã nã pháo kích
như mưa vào làng, làm trúng hầm trú ẩn gia đình cha Tâm.
Kết quả là đứa con út tôi và 2 đứa cháu của cha Tâm bị
tử thương.
Trong tù, tôi gặp Đại tá Nguyễn
Văn Của, thiết giáp, tỉnh trưởng tỉnh Châu Đốc cho tôi
biết khi Ban Mê Thuột bị mất, ông Thiệu đã triệu các tỉnh
trưởng về họp tại dinh Độc Lập và nói: Thằng Luật trở
về trình diện, tôi sẽ xử bắn ngay vì bỏ chạy mà không
giữ được thị xã. Còn các anh cũng vậy, ai bỏ tỉnh mà
chạy, tôi cũng bắn ngay.
Nghe lời kể của anh Của mà
lòng tôi xót xa, Ở đời ai có hiểu mình và tôi lại nghĩ
tới mình đang trong đời lao tù không có ngày ra này. Thêm
nữa, cũng may cho tôi là tôi đã không bỏ tỉnh, chạy trước
khi địch quân đến mà tôi ở lại cố thủ để bị bắt
tại chiến trường. Nếu không bị xui xẻo vì bị oanh tạc
lầm vào TOC, nếu quân tiếp viện đến kịp thời thì đâu
đến nỗi bị bắt và ở tù tại miền Bắc 13 năm, 5 tháng,
25 ngày.
Sau khi gia đình tôi đã được
định cư tại Mỹ, qua diện HO. Vì chưa ổn định được
đời sống nên tôi chưa có dịp diện kiến ông Thiệu để
thưa lại vị tổng tư lệnh của tôi đôi điều. Có một
cảm nghĩ mà tôi cứ suy nghĩ mãi là các tướng VNCH có đọc
truyện Tàu không, nhất là tướng Phú, để không bị Bắc
Việt đánh lừa ở Vùng 2. Vì nếu đọc truyện Tàu đời
xưa, chúng ta đều biết trận đánh giữa Hàn Tín và Hạng
Võ được gọi là:
Minh tu sạn đạo, ám độ
trần thương.
(Nguyễn Trọng Luật)
|
|