Phần
I
Đã gần 30 năm nay, cứ đến
ngày 22 tháng 3, Liên Hiệp Quốc lại lên tiếng kêu gọi
thế giới chú ý, đồng thời góp công góp của giúp
giải quyết vấn nạn: hàng tỉ người dân ở các quốc
gia nghèo khó, vẫn còn thiếu nước dùng đủ tiêu chuẩn
vệ sinh. Mục đích trước mắt: đến năm 2030 phải giải
quyết căn bản vấn nạn nói trên. "Ngày Nước Thế
Giới/World Water Day" năm 2020, đặc biệt chọn chủ đề
"Nước và Biến Đổi Khí Hậu/Water and Climate Change".
Đối với Việt Nam, đặc
biệt với hàng chục triệu bà con đang oằn mình bám
sống tại đồng bằng châu thổ sông Cửu Long, thảm họa
ô nhiễm môi trường, ngập mặn, khô hạn, quá nhiều
con đập trên vùng thượng lưu sông Mekong v.v. không còn
là đề tài học thuật, tranh luận đúng sai. Nó đã
biến thành mối họa nhãn tiền, cần biện pháp giải
quyết cấp bách. Bản thân tôi không đủ khả năng và
kiến thức để viết về một đề tài quá quan trọng,
ảnh hưởng lâu dài tới kế sinh nhai và mạng sống của
hàng chục triệu con người. Vì thế tôi xin được giới
thiệu với quý bạn đọc, những ký sự, nghiên cứu
giá trị của nhiều tác giả sớm nhận ra thảm họa môi
trường ở đồng bằng sông Cửu Long (chi tiết xem ở
phần cuối bài này).
***
Mọi sinh vật nói chung đều
cần nước để sống còn và phát triển giống nòi.
"Loài
người tinh khôn/Homo sapiens" từ khi xuất hiện ở Phi
châu? rồi di cư đi nhiều nơi tìm đất sống, cũng phải
tuân thủ quy luật bất di bất dịch và vĩnh cữu nói
trên mới tiến hóa được đến ngày hôm nay. Nhịn đói
trung bình 2, 3 tuần, chúng ta vẫn tồn tại một cách
tương đối. Nhịn khát thì trái lại, chỉ chừng 2 đến
3 ngày, đủ khiến con người điêu đứng và có thể
(như vè sĩ Bút Tre mô tả) "... đang sống chuyển
sang từ trần".
Thông thường tiến trình
chết khát diễn tiến một cách thiếu hấp dẫn: trước
khi cơ thể quay cuồng, bất tỉnh và đi đến tử vong,
cuống họng nứt nẻ, lưỡi sưng tấy, da khô cằn nhanh
chóng. Do lượng axít trong bao tử gia tăng, máu đặc quánh
dần khiến tim đập mạnh, buồn ói, mắt nhìn thấy
ảo giác. Hệ thống lọc như gan, thận v.v. mất khả năng
hoạt động, thần kinh co rút, não bộ căng phồng, có
thể rách bươm, khiến đầu đau như búa bổ. Rồi cơ
thể hôn mê, co co giật giật trước khi "hồn lìa khỏi
xác". Xem thế để biết rằng, chân ngắn hay chân dài,
tài tử hay giai nhân, chết kiểu gì thì cứ chết, đừng
nên chết khát, chẳng đẹp mắt tí nào.
Cấu tạo cơ thể con người,
bao gồm chừng 50% đến 70% nước, gần 20% chất đạm,
trên 15% mỡ, 5% chất khoáng v.v. Ngay cả xương xẩu, răng
cỏ cứng ngắt cũng chứa nước. Nước giúp "bôi trơn",
máu huyết tuần hoàn, tế bào sinh sản, thần kinh hoạt
động, gan, thận thường xuyên lọc độc tố, bắp thịt
ngày ngày cứng lên mềm xuống v.v. Thiếu đi chừng 5%
đến 10% lượng nước tiêu thụ hằng ngày, con người
sẽ sụi lơ. Trung bình mỗi ngày, con người cần uống
chừng 2 lít nước, tùy tuổi tác, tình trạng cơ thể,
công việc đang làm, thời tiết, khí hậu v.v. Tuy nhiên
chúng ta nên biết rằng, uống quá nhiều nước cũng
không hay ho lắm. Nó có thể khiến lượng muối natri
trong cơ thể giảm thiểu đáng kể.
Nước sông, sông nước.
Sách Cảnh Thế Thông Ngôn
của tác giả Phùng Mộng Long kể lại một giai thoại
liên quan đến nước sông như sau. Thời nhà Tống
- thế kỷ XI - hai nhân vật nổi tiếng, Vương An Thạch/VAT
và Tô Đông Pha/TĐP đều văn hay chữ tốt, nhưng lại
đứng trong hàng ngủ đối đầu. VAT làm đến chức
Tể tướng, người chủ trương cải cách nhằm hạn chế
dần các đặc quyền của phe quý tộc, hoàng thân quốc
thích v.v. trong đó có gia đình của TĐP. 2 cụ này tuy ghét
nhau ra mặt, nhưng vẫn nể phục, đối xử nhau theo kiểu
"quân tử Tàu". Có điều TĐP, lép vế quyền lực, bị
đẩy ra giữ một chức quan tầm thường ở Hàng Châu.
Trước khi lên đường nhậm
chức mới, TĐP xin được về quê ngoại Tứ Xuyên để
thăm gia đình. VAT thì bị chứng sổ mũi, ăn uống khó tiêu,
tin rằng được uống trà pha với nước Trường Giang tại
vùng Trung Hiệp sẽ rất tốt cho sức khỏe, nên VAT nhắn TĐP
đi thăm gia đình, tiện đường mang về cho mình mấy
khạp nước quý. Trở lại kinh đô sau chuyến đi dài ngày,
TĐP mang về mấy lu nước đầy. VAT sai thuộc hạ lập tức
múc nước đun sôi và đem pha trà. Nhìn chén trà sóng sánh
VAT nheo mắt có vẻ nghi ngờ và hỏi thẳng rằng:
- Lạ nhĩ, có phải nước
lấy từ Trung Hiệp?
- Thưa tiên sinh, dĩ nhiên
như thế, chắc như đinh đóng cột đấy.
- Nhưng các khạp nước
này được múc từ Hạ Hiệp, chứ không phải Trung Hiệp.
TĐP lặng người đành thú
nhận một cách khôn khéo:
- Thuyền trôi chòng chành,
gió mát hây hây khiến tôi ngủ quên khi đi ngang Trung Hiệp.
Mãi đến Hạ Hiệp tôi mới tỉnh dậy, sực nhớ ra nên
đành múc nước trên khúc sông đó. Vả lại tôi tin rằng
nước tại Trung Hiệp hay Hạ Hiệp thì có gì khác nhau.
VAT ra cái điều ta đây hiểu
biết giảng giải như sau:
- Tôi xin trích các nhận
xét về nước sông Dương Tử từ sách Sơn Thủy Kinh
Chú. Tại khu Thượng Hiệp nước chảy quá nhanh, dùng
nước này pha trà sẽ nồng. Tại Hạ Hiệp nước lại
chảy quá chậm, pha trà bị nhạt. Đặc biệt chỉ tại Trung
Hiệp dòng chảy đều đặn trôi đi, pha trà rất tốt
cho những người như tôi mắc bệnh ‘trung tiêu’, cần
khai thông kinh mạch.
TĐP không còn cách nào khác
đành cúi đầu xin tạ tội. Câu chuyện trên thực hư
ra sao, có trời mới biết. Phùng Mộng Long (1574-1646),
nguyên cũng là tác giả Đông Chu Liệt Quốc, nổi
tiếng với những giai thoại hư cấu. Có thể VAT dùng
tiền mua chuộc được 1 tên thuộc hạ nào đó nằm trong
đám gia nhân của TĐP nên biết rõ đường đi nước bước
của ông ta? Nhưng thôi xin tạm biệt hư cấu để trở
về dẫn chứng khoa học.
Khi vì một lý do nào đó
nhiệt độ thân thể gia tăng, chúng ta cần uống thêm
nước. Tiếc thay cơ thể con người không có khả năng
dự trữ nước để dùng lâu dài như loài lạc đà.
Loài vật này có thể sống vài tuần lễ trong sa mạc,
không cần thức ăn nước uống, nên hàng ngàn năm qua
đã trở thành phương tiện vận chuyển hàng hóa cho
giới thương buôn trên "Con đường tơ lụa". Vì chỉ quan
sát hình hài bên ngoài, thời xưa người ta lầm tưởng
rằng, cái bướu là kho dự trữ nước của lạc đà.
Tưởng "dậy" mà không phải
"dậy"! Bướu lạc đà thật ra chỉ chứa mỡ - có thể
nặng đến 35 kí lô - và cơ chế hoạt động diễn tiến
đại khái như sau: nếu lạc đà không có thức ăn, các
mô mỡ trong bướu biến thành chất dinh dưỡng tạm nuôi
sống chúng một thời gian. Bướu sẽ dần teo lại, nhưng
cũng nhanh chóng phình lên khi lạc đà được tiếp tế
thức ăn phù hợp. Ngoài ra lạc đà lại có khả năng
điều hòa thân nhiệt hữu hiệu, nên hầu như không đổ
mồ hôi, và tiểu tiện rất ít nước. Cấu trúc tế
bào máu đặc biệt còn giúp chúng hấp thụ và trữ
nước nhiều hơn so với tế bào các loài sinh vật khác.
Nói chuyện sông nước thì
dĩ nhiên phải nhắc đến người đẹp Lương Ý Nương/LYN
đời Hậu Chu thời Ngũ Đại - Thập Quốc tác giả bài
thơ Trường Tương Tư, mặc dù đã có hàng ngàn
bài viết về đề tài này. Si tình như thế nào mà
cho ra đời tác phẩm bất hủ như thế, quả thật bản
thân tôi cũng muốn liều mình si tình thử một phen xem
sao. Số là gia đình LYN, trú ngụ bên dòng sông Tương,
cho hàn sĩ Lý Sinh/LS thuê phòng trọ. Trai tài gái
sắc nên lửa gần rơm lâu ngày cũng bén, Lương công biết
chuyện, giận dữ tống cổ LS ra khỏi nhà. Nàng LYN cô
quạnh mang mối sầu tương tư, nhưng không biết tâm sự
cùng ai đành mượn ý thơ để gửi gắm lòng dạ. Tôi
chỉ xin trích 6 trong tổng số 12 câu thơ không cần bóng
bẩy, dùng từ đơn giản, nhưng càng đọc càng thấm
thía, càng quay quắt:
...
Giang thâm chung hữu để,
Tương tư vô biên ngạn.
Quân tại Tương giang đầu,
Thiếp tại Tương giang
vĩ.
Tương tư bất tương kiến,
Đồng ẩm Tương giang thủy.
...
|
...
Sông sâu còn có đáy,
Tương tư không bến bờ.
Chàng ở đầu sông Tương,
Thiếp ở cuối sông Tương.
Tương tư không gặp mặt,
Cùng uống nước sông Tương.
...
|
May thay Lương công là người
sính thơ phú, ngâm nga Trường Tương Tư rồi đâm
ra không chỉ mủi lòng, mà còn quý trọng cô con gái rượu,
lập tức nhắn tin cho gọi LS châu về hợp phố. Cái
đặc biệt của câu chuyện tình éo le nói trên, trong một
xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ, là vai trò nàng
LYN khá chủ động, so với chàng LS thụ động, hầu như
vô tích sự, chờ người ta dọn cỗ bàn xong mới sà
vào ăn. Dù sao thì sao, chàng và nàng giờ đây không
chỉ "Cùng uống nước sông Tương", mà ngày ngày còn nắm
tay ngụp lặn, tắm rửa, hạnh phúc bách niên giai lão với
Sông Nước Tiêu Tương. Có bao giờ đôi trai tài gái sắc
LYN+LS biết rằng hơn một thiên niên kỷ trước, triết
gia Hy Lạp cổ đại Heraclitus đã đưa ra nhận xét
thật đơn giản: "Không ai tắm hai lần trong một dòng sông".
Nhưng không phải cuộc tình
nào cũng kết thúc có hậu. Cố nhạc sĩ Văn Giảng
(1924 Huế - 2013 Victoria, Úc) nghe đâu từng tương tư một
cô gái làng Kim Long (người Huế hay gọi là Kim Luông,
nơi sản sinh ra rất nhiều cô gái mỹ miều), nhưng rồi
chuyện cưới xin không thành. Năm 1949 vừa tròn 25 tuổi,
một buổi chiều cô liêu bên sông Hương, lòng tê tái
hướng về Kim Luông, chàng thanh niên tài hoa si tình đã
dệt nên cung bậc bất hủ "Ai về sông Tương".
"Ai có về bên bến sông
Tương,
nhắn người duyên dáng
tôi thương, bao ngày ôm mối tơ vương".
Rất có thể chàng Lý Sinh
ở Huế nhân cúi người uống một ngụm nước tại
đầu nguồn sông Hương, rồi mơ tưởng rằng ở đâu
đó cuối dòng, Lương Ý Nương làng Kim Luông cũng đang
vốc nước uống để nhớ chàng. Sông Hương chuyển
thành sông Tương chắc vì vậy? Không biết nguồn thống
kê từ đâu và thời gian nào, nhưng có người khẳng
định "Ai về sông Tương" là 1 trong 10 nhạc phẩm nổi
tiếng nhất thuộc nền âm nhạc Việt Nam.
Tưởng cũng nên thêm thắt
đôi lời về làng Kim Long hay đúng hơn những người
đẹp không tên không tuổi sinh ra và lớn lên tại đây.
Dân gian thường truyền tụng câu ca dao:
"Kim Long có gái mỹ miều,
Trẫm thương, trẫm nhớ,
trẫm liều, trẫm đi."
cho rằng lấy ý tứ từ
giai thoại vua Thành Thái giả dạng thường dân đi tìm
cung phi tại làng Kim Long. Thực hư ra sao chưa có lời giải,
chỉ biết rằng, dưới triều vua Thành Thái có bà cung
phi Nguyễn Hữu Thị Nga gốc gác làng Kim Long.
Lại một giai thoại khác
nhằm đề cao tinh thần kháng Pháp của vua Thành Thái là
câu chuyện 4 đội nữ binh, mỗi đội 50 quân, ra đời
bí mật trong cung cấm. Để tránh tai mắt người Pháp
khắp nơi, chính nhà vua sai thuộc hạ thân tín tung tin nhiễu
về thói ăn chơi, săn lùng gái đẹp của mình nhằm đánh
lạc hướng. Nhưng tại sao lại làng Kim Long? Vì ngôi làng
này nằm ở vị trí khá thuận lợi, gần cửa Hữu,
còn được gọi là Tây Nam Môn (nằm ở phía Tây Nam của
Kinh Thành). Con đường từ Kim Long dẫn về Thành Nội
lại thường rất vắng vẻ, nên ít ai dòm ngó. Nhà vua
thường cho người bí mật đến vận động, khuyến
khích, tặng thưởng tiền bạc gia đình các cô gái, dù
xấu hay đẹp, tham gia việc cứu nước. Sau đó vua cho
dàn cảnh, rước các cô gái này đem về triều đình
làm cung phi, nhưng kỳ thực là cho luyện tập võ nghệ,
xong trở về làng, chờ dịp nổi lên chiến đấu chống
Pháp. Tiếc là sự việc cuối cùng bị bại lộ. Thực
dân Pháp đày vị vua yêu nước nhà Nguyễn sang đảo Réunion.
Câu chuyện nêu trên bố cục còn khá lỏng lẻo, có vài
chi tiết thiếu thuyết phục, bao nhiêu là sự thật, bao
nhiêu là thêm mắm thêm muối? Kiến thức và khả năng
của người viết bài quá giới hạn, xin để quý bạn
đọc suy xét và rất mong được các bậc cao minh chỉ
giáo.
…
So với Văn Giảng, một người
tài hoa khác là cố nhạc sĩ Dương Thiệu Tước
(1915-1995), hình như may mắn hơn khi gửi gắm tâm sự qua
bài "Đêm Tàn Bến Ngự" (sáng tác năm 1946). Về
sau ông và bà Minh Trang nên vợ nên chồng. Trong bản nhạc
có 2 câu như sau:
Hàng cây soi bóng nước Hương,
Thuyền xa đậu bến Tiêu
Tương
Với khả năng và kiến thức
giới hạn, tôi chỉ biết rằng Huế không có sông Tương
và cũng chẳng có bến đò nào mang tên Tiêu Tương? nên
cố nhạc sĩ Dương Thiệu Tước chắc đã mượn
điển cố văn học Trung Hoa xưa, thí dụ: Chinh Phụ Ngâm,
bản dịch của bà Đoàn Thị Điểm từ nguyên tác chữ
Hán của Đặng Trần Côn:
Bến Tiêu Tương mấy hàng
khói tỏa
Cây Hàm Dương bóng lá ngất
đầu
Tuy nhiên miền Bắc Việt
Nam cũng từng có một con sông mang tên Tiêu Tương, nên
đôi khi người ta dễ nhầm lẫn Tiêu Tương ở đất
nước ta với Tương Giang hay Tiêu Tương bên Tàu. Tuy là
dòng sông với nhiều chứng tích lịch sử từ thời
Đại Việt, nhưng Tiêu Tương giờ đây, trải qua bao nhiêu
vật đổi sao dời, mất đầu mất đuôi, chỉ còn lại
những ao cùng hồ, ẩn mình trong hệ thống làng xã
vùng quê hương Quan Họ Bắc Ninh. Đất nước ta, một số
con sông khác cũng bị vùi lấp qua bao nhiêu thăng trầm,
như sông Tào Khê, sông Dâu, hay sông Vị Hoàng chảy qua thành
phố Nam Định, quê hương cụ Trần Tế Xương:
Sông kia rày đã nên đồng,
Chỗ làm nhà cửa, chỗ
trồng ngô khoai.
Vẳng nghe tiếng ếch bên
tai,
Giật mình còn tưởng tiếng
ai gọi đò.
Không phải là nhà nghiên
cứu chuyên môn, tôi chỉ biết sơ sài rằng, hiện nay người
ta vẫn chưa xác định được chắc chắn dòng chảy của
Tiêu Tương, bị vùi lấp dần trong khoảng thời gian nào?
Con sông nho nhỏ này tách đi từ sông Hồng, rồi nhập
vào sông Cầu chứ không đổ ra biển. Nói chung miền
Bắc Việt Nam có 2 hệ thống sông ngòi chính yếu. 1/
Hệ thống sông Hồng, bắt nguồn từ tỉnh Vân Nam, Trung
Quốc, dài tổng cộng 1149 cây số, nhưng phần chảy trên
Việt Nam chỉ dài 510 cây số, gồm 2 phụ lưu lớn: sông
Đà, sông Lô. 2/ Hệ thống sông Thái Bình (tên như thế nhưng
lại không chảy qua tỉnh Thái Bình): với các phụ lưu
như sông Cầu, sông Lục Nam, sông Thương.
Nguồn: Sơ
đồ Sông Hồng và lưu vực.
Dòng sông Tiêu Tương cạn
nước, nhường hơi thở cho nhà cửa, ruộng đồng, nhưng
vẫn sống mãi với câu chuyện tình éo le, buồn đứt
ruột: Trương Chi - Mỵ Nương, ẩn náu trong lời ca
quan họ:
Ngày xưa có anh Trương Chi
Người thì thậm xấu, hát
thì thậm hay
Cô Mỵ nương vốn ở lầu
tây
Con quan Thừa tướng ngày
rày cấm cung
Qua bao nhiêu thế hệ, đa
số chúng ta ngay từ thời thơ ấu, ít nhất một lần
từng được nghe, được đọc huyền thoại rất nổi
tiếng Trương Chi - Mỵ Nương. Vì thế tôi chỉ nhắc lại
rất tóm tắt câu chuyện cổ tích như sau: Mỵ Nương con
gái quan thừa tướng, suốt ngày bị cấm cung. Trương
Chi là anh lái đò/đánh cá trên sông Tiêu Tương, đêm
đêm với giọng hát truyền cảm (có bản kể rằng anh
ta thổi sáo) làm xao xuyến Mỵ Nương, khiến nàng ốm
tương tư. Thế nhưng khi nhìn thấy diện mạo quá quê
mùa cục mịch của Trương Chi, nàng Mỵ Nương vỡ mộng.
Còn Trương Chi oái ăm thay lại bị tiếng sét ái tình,
tuyệt vọng thương nhớ Mỵ Nương, hồn lìa khỏi xác,
quả tim đau khổ biến thành viên ngọc. Có người tìm
thấy viên ngọc quý, bèn đẽo ra từ đó một chén uống
trà, mang tặng quan lớn. Khi Mỵ Nương rót trà vào chén,
hình bóng Trương Chi chèo thuyền trên sông Tiêu Tương xuất
hiện, kèm theo tiếng hát/hay tiếng sáo não nùng. Những
giọt nước mắt xót thương của Mỵ Nương rơi xuống chén
trà vô tình làm tan biến tất cả.
Vẫn còn khá nhiều thắc
mắc về xuất xứ, thời gian ra đời câu chuyện Trương
Chi - Mỵ Nương. Tạm gạt câu hỏi này qua một bên, chúng
ta có thể tự hỏi lòng, nên nhìn câu chuyện dưới
lăng kính nào cho hợp tình hợp lý. Lương Ý Nương/LYN
- Lý Sinh/LS bên Tàu hóa ra may mắn hơn Trương
Chi/TC - Mỵ Nương/MN bên Việt Nam ta rất nhiều?
Dù sao thì sao, LYN+LS cũng cùng đẳng cấp, ngược với
TC-MN, một bên là tiểu thư đài các, bên kia là cùng
đinh mạt hạng. Như vậy nhìn qua lăng kính "Môn Đăng Hộ
Đối” ta thấy nội dung chuyện TC-MN là thực trạng
không thể hóa giải được mâu thuẫn căn bản này. Ở
đây tôi không bàn đến ý nghĩa, nguồn gốc của cụm
từ "Môn Đang/Đương Hộ Đối” hay “Môn Đăng Hộ Đối”,
mặc dù cũng là cũng là một đề tài khá lý thú.
Nhạc sĩ Văn Cao, với
tuyệt phẩm "Trương Chi" sáng tác năm 1942, vô
tình đã khơi ra một dòng nhạc tập trung quanh đề tài
này như "Khối tình Trương Chi" (1945-46)
Phạm
Duy, rồi Hùng Lân, rồi Anh Bằng v.v. Đó
là chưa kể hàng trăm bài thơ, kịch, bài viết khác,
làm rung động lòng người. Vì thế tôi xin miễn khỏi
đi sâu vào đề tài nói trên, thay vào đó chọn một
lối nhìn phiến diện qua lăng kính đen đủi, bói ra ma
quét nhà ra rác: Trương Chi - Mỵ Nương có thể là huyền
thoại thăng hoa mang tính triết lý răn đời. Nàng MN vô
tình được nghe tiếng hát, tiếng sáo xao xuyến cõi
lòng, nhưng vì cả đời chỉ sống trong lầu son gác tía,
thần kinh MN vội suy diễn rằng giọng hát/tiếng sáo
phải đến từ một thư sinh nho nhã, ít nhất cũng như
Kim Trọng trong Kim Vân Kiều: "Phong tư tài mạo tuyệt vời,
Vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa". Nhưng đó chỉ là
hình bóng mộng tưởng của một tiểu thư quen nhung quen
lụa. Khi biết được thân thế gốc gác TC, nàng ta hoảng
sợ quay ngoắt 180 độ. TC hiện nguyên hình tên khố rách
áo ôm "Vào trong phong thấp, ra ngoài rỗ hoa".
Nhưng chắc gì TC là một
anh chàng cù lần xấu xí? hay chỉ là người lái đò
bình thường, quần áo hơi lôi thôi, diện mạo hơi khắc
khổ vì nghèo, bữa đói bữa no? Áp đặt nhân vật
TC xấu xí chỉ là cái cớ cho MN dễ rút lui có trật
tự? Không "Môn Đăng Hộ Đối” thì “bất thành phu
phụ” chấm hết, khỏi bàn. Ngày xửa ngày xưa, thành
vợ thành chồng mới quan trọng, còn tình yêu chỉ là
món hàng xa xỉ, có cũng được, không có cũng chẳng
sao. Quan hệ trai gái nhằm tiến đến cứu cánh cuối
đường hầm: hôn nhân, vợ sớm có thai đẻ cho lẹ, giúp
chồng truyền giống (bộ Gen di truyền học), nói cho văn
hoa là nối dõi tông đường. Còn anh TC nghèo mà ham,
thân phận thấp kém làm sao vói tới lá ngọc cành vàng.
Trèo cao té đau nên anh phải trả giá bằng chính mạng
sống. Còn chuyện quả tim TC biến thành ngọc, tan biến
đi khi những giọt nước mắt MN rơi xuống, nhằm giúp
giảm bớt cường độ cái tát trời giáng vào mặt
anh ta, cũng như gia tăng thêm cái lòng nhân hậu của MN.
Nhưng ta trách móc MN, có quá đáng hay chăng? Dù sao thì
sao, phụ nữ được quyền từ chối mọi hôn nhân không
phù hợp với bản chất, sở thích, tính toán cá nhân.
Có một lăng kính khác để
nhìn câu chuyện Trương Chi - Mỵ Nương, dựa theo ý tưởng
của nhà văn Dương Hùng Cường/DHC, người đã chết
trong tù (1988), vì tác phẩm "phản động" "Nếu anh
Trương Chi đẹp trai" (1981). Theo ông DHC, chàng TC (đại
diện cho Đảng Cộng sản Việt Nam, giai cấp vô sản, nghệ
sĩ v.v. tự giác hay không tự giác) hót quá tài tình,
khiến MN (người dân, thành phần trung lưu, tiểu tư sản
v.v.) cả tin, chưa gặp mặt nhưng yêu thầm trộm nhớ, mãi
đến 1975 va chạm thực tế mới vỡ mộng. Nói cho đúng
không chỉ người dân Việt Nam là nạn nhân của màn lừa
bịp, cướp bóc vĩ đại. Từ Nga sang Tàu, từ Âu sang
Á, hàng trăm triệu người, có khi phải trả giá bằng
mạng sống bản thân, gia đình v.v. chỉ vì nghe tiếng hót
của TC, rồi mơ đến một ngày mai no ấm, bình an. Đại
đa số những cuộc "cách mạng là ngày hội quần chúng",
giành độc lập v.v. trong chừng 100 năm qua đều dẫn
đến kết cục bi đát, vì nhiều anh TC sau khi lên nắm
quyền hành, quên luôn tiếng hát, dần dần hiện nguyên
hình một lũ ma bùn, ma mãnh, hay cùng nhau trở thành
phe đảng băng cướp.
Ở một khía cạnh khác,
cái chết của anh TC có thể là biểu tượng cho cái
chết của dòng Tiêu Tương, và những nguồn kinh tế liên
quan trực tiếp đến con sông này. Thí dụ: nghề đánh
cá, thuyền bè đưa khách, chợ búa trên sông v.v. Ngược
lại, cũng có những thành phần dân chúng hưởng lợi,
giàu sụ lên từ sự biến mất của dòng Tiêu Tương:
trồng trọt, xây nhà cửa v.v. trong đó chắc phải có
gia đình nàng MN. So sánh với những sự việc đang xảy
ra hằng ngày tại Việt Nam hiện nay - Đồng Tâm, Thủ Thiêm
là thí dụ điển hình - các nhóm lợi ích, cấu kết
với phe cánh chính quyền, lấy cớ thực hiện kế
hoạch chỉnh trang sân bay, đô thị v.v. bất kể giá trị
lịch sử, văn hóa của phần đất, phần sông ngòi đang
bị giải tỏa, bất cần hoàn cảnh sinh nhai, mạng sống
người dân.
Như tất cả mọi vấn đề
chìm sâu trong quá khứ mơ hồ, tìm thấy một lời giải
đáp cho một câu hỏi nào đó, lại là tiền đề dẫn
đến một câu hỏi khác. Chúng ta lạc vào mê hồn trận,
cứ thế liên tục trùng trùng điệp điệp, như tổ
tiên sinh ra ông bà, ông bà sinh ra cha mẹ, cha mẹ sinh con
cái, cháu chắt v.v. Cố giải mã chuyện dòng sông Tiêu
Tương, và quấn quít theo đó, câu chuyện Trương Chi -
Mỵ Nương, cũng không nằm ngoài quy luật phức tạp nói
trên. Nên tôi xin tạm ngừng ở đây. Nhưng nói tóm lại
dù chúng ta suy diễn thế nào đi chăng nữa, tiếng hát
hay tiếng sáo Trương Chi, vang vọng trên dòng Tiêu Tương,
rõ ràng không phải nhằm mê hoặc tha nhân; đó chỉ là
lời tâm sự với trần gian, "một chiều xưa trăng
nước chưa thành thơ" (Văn Cao). Anh Trương Chi có ngờ
đâu, tiếng lòng trung thực giữa dòng đời của mình,
lại dẫn đến một hậu quả bi đát cho chính bản thân.
Nguồn:
Ulysses
and the Sirens by H.J. Draper
Nguồn:
Lurelei,
Gemälde von Carl Joseph Begas (1835)
So sánh với các giai thoại
khác trên thế giới, liên quan đến tiếng hát, anh Trương
Chi Việt Nam là người nhân hậu, không hãm hại bất
cứ ai. Khác với sử thi Odyssey, đất Hy Lạp
gần 3000 năm trước, Homer đã đề cập đến tiếng
hát quyến rũ của các nàng tiên cá, với giọng hát
du dương, quyến rũ bao nhiêu thủy thủ xa nhà, cô đơn giữa
biển cả bao la, mất phương hướng, tàu bè đụng phải
đá ngầm, mất mạng trên hoang đảo hay chìm sâu dưới
đáy biển. Cũng theo khuôn mẫu hiểm nghèo đến từ
phụ nữ, nước Đức có huyền thoại tương tự, có
nàng Loreley ngồi trên mõm đá, bên bờ sông
Rhein, xỏa tóc bờ vai, cất tiếng hát nồng nàn, động
lòng bao chàng trai nhẹ dạ, chẳng khác chi mấy con thiêu
thân, lái thuyền bè đâm sầm vào vách núi.
Nước thánh.
Tôi có anh bạn là con trai
út, thuộc dòng dõi gia đình truyền thống rất ngoan
đạo Công giáo. Nhưng đến đời anh ta, việc đạo không
còn mặn mà như các thế hệ đi trước. Có lẽ vì
cuộc sống ngày càng phức tạp, mâu thuẫn đạo đời,
công ăn việc làm, gia đình vợ con, kiến thức, khoa học
phát triển v.v. anh T. không đủ sức quán xuyến trăm bề.
Anh T. còn mẹ già, sống chung với gia đình, tuổi trên
80, đầu óc cụ tuy tương đối minh mẫn, nhưng cơ thể
đã suy yếu nhiều, không đi lại được bình thường.
Cặp vợ chồng cùng 2 cháu
nhỏ, có lần đi nghỉ xả hơi ở Bồ Đào Nha. Chương
trình ngoài những ngày thăm viếng thủ đô Lisbon và các
vùng lân cận, còn 1 hôm chỉ dành riêng cho chuyến hành
hương Fatima. Cụ dặn tới dặn lui con trai và con dâu, làm
gì thì làm cũng ráng mang về chai nước thánh để
cụ dùng. Sau một tuần du hí, trước khi trở về nhà,
T. còn gọi điện thoại thăm hỏi mẹ đồng thời báo
tin vui đã lấy được 1 chai nước thánh. Tuy nhiên về
đến nhà mở va-li ra mới tá hỏa tam tinh. Chai bị đồ
đạc đè nứt, nước thánh chảy hết ra ngoài thấm
ướt quần áo. T. sững sờ như lần đầu tiên đột
ngột nghe tin vợ bị sẩy thai mấy tháng sau lễ cưới.
2 vợ chồng lặng người nhìn nhau tưởng tượng đến
niềm đau vô bờ bến của mẹ già. Tuy không nói ra nhưng
họ đã biết việc phải làm. Làm gì thì làm, không
thể để cụ thất vọng, đâm ra nghĩ quẩn, suy diễn
rằng đó là dấu hiệu cho thấy cụ không được vào
nước Chúa.
Vợ chồng anh T. đành lấy
nước bình thường bỏ vào chai và nói dối là nước
thánh rồi đưa biếu cụ. Sau đôi lần nhấp nhấp vài
ngụm nước đi kèm với đọc kinh cầu nguyện, cụ thấy
đầu óc, cơ thể khỏe khoắn hẳn ra. Nay cụ đã ra người
thiên cổ được vài năm, nhưng tôi nhắc lại chuyện này
để nhấn mạnh đến khả năng vừa mang tính tâm lý
vừa sinh lý tự thân chữa bệnh khá "huyền bí" của
con người. Chắc quý bạn đọc đã nghe đến "Hiệu ứng
giả dược/Placebo effect". Riêng phần tôi thì vẫn thắc
mắc không biết anh chị T. xưng tội ra làm sao? Mà thật
tình họ có tội tình gì đâu?
Tôi cũng từng được viếng
Fatima. Nhìn cảnh tượng người quỳ gối hay bò lết
đi cho đủ mấy vòng quanh nhà nguyện, thấy sao mà quá
thảm thiết, cứ nhoi nhói trong ngực. Chắc họ đang cầu
nguyện cho cha mẹ, vợ chồng, con cái, người yêu, bạn
bè hay chính bản thân khỏi bệnh tật, được may mắn
v.v.? "Còn nước còn tát" hay "có bệnh thì vái tứ
phương". Trên nguyên tắc, đó là lời khuyên chí lý. Nhưng
nếu ta chịu khó suy nghĩ tiếp, lời khuyên như trên quá
chung chung trừu tượng, vái không đúng lúc đúng chỗ,
vừa phí công, của, thì giờ, có thể vô tình dẫn
đến tình trạng tiền mất tật mang. Cầu nguyện cho
bản thân, may ra? Theo tôi suy nghĩ, lòng tin vào một đấng,
điều thiêng liêng, có thể là cái phao, chiếc nạng tâm
lý giúp con người đứng lên sau khi gục ngã. Nhưng cầu
nguyện cho người khác, khó quá! Bởi vậy lý trí khuyên
tôi không nên tin vào các cách chữa bệnh kiểu này,
nhưng tình cảm thì vẫn mong cho những điều ước nguyện
như trên trở thành hiện thực. Hay chỉ ai có đầy đủ
đức tin mới hiểu được những điều bí ẩn mà
khoa học chưa thể giải thích?

Người
thì quỳ gối lết đi, người thì bò v.v. sao cho đủ
mấy vòng quanh nhà nguyện Fatima.
Chú thích:
1/ Các bài viết của ông
Ngô Thế Vinh:
https://vietbao.com/author/post/2633/1/ngo-the-vinh
2/ Vũ Kim Hạnh. ĐBSCL: Hạn
mặn đang khốc liệt. nhưng nóng bỏng hơn là chuyện xây đập
Luang Prabang!
https://www.facebook.com/vu.k.hanh.52/posts/10158426973911122
3/ Phạm Phan Long. Thủy điện
Lancang-Mekong gây khát nước và đói phù sa cho đồng bằng
sông Cửu Long cách nào?
https://boxitvn.blogspot.com/2020/03/thuy-ien-lancang-mekong-gay-khat-nuoc.html
4/ Nguyễn Ngọc Trân.
Côn
Đảo và bài toán nước ngọt cho vùng mặn ĐBSCL.
https://baodatviet.vn/dien-dan-tri-thuc/con-dao-va-bai-toan-nuoc-ngot-cho-vung-man-dbscl-3399018/
5/ Nguyễn Ngọc Chu.
Bao giờ
bộ chính trị họp về đồng bằng sông Cửu Long?
https://www.facebook.com/chu.nguyenngoc/posts/1934048773395210
6/ Hiếu Tân dịch từ bài
của Hannah Beech: Trung Quốc bóp nghẹt dòng chảy Mê Kông.
Các nước khác chịu hạn hán.
https://vandoanviet.blogspot.com/2020/04/trung-quoc-bop-nghet-dong-chay-me-kong.html
7/ Điều
tra Mỹ về thủy điện Trung Quốc làm Mêkông khô hạn: Cơ
hội các nước hạ lưu đòi công lý?
8/ Tài liệu của Liên Hiệp
Quốc về thực trạng nước nôi Việt Nam:
https://sdg6data.org/country-or-area/Viet%20Nam
(còn tiếp)
Khả
Tri