Lời Tác
Giả: Bài viết Bùi Giáng, Ðại Lão Cái Bang cho Giai Phẩm
Xuân Bính Tý (1996) của tuần báo Tình Thương của nhà văn
Lâm Tường Dũ (hiền thê của anh, bà con với Bùi Giáng) gợi
ý tôi viết bài nầy để có món quà kỷ niệm người anh
vào tuổi thất thập. Nhờ tài liệu của anh Bùi Như Hải
lưu trữ hỗ trợ cho bài viết.
Sau khi Bùi Giáng qua đời
(tháng 10 năm 1998) có nhiều bài viết cũng tựa đề nầy vì
hình ảnh và cuộc sống cá biệt của ông tựa như nhân vật
trong tác phẩm võ hiệp của Kim Dung trong Võ Lâm Ngũ Bá đến
Anh Hùng Xạ Điêu... Bang chủ Cái Bang đời thứ 18 xuất hiện
trong chốn võ lâm. "Lão ăn mày" ăn mặc rách rưới, võ công
thâm hậu, thích rượu, lúc say, lúc tỉnh, khi tĩnh lặng, khi
ồn ào náo nhiệt giữa đám quần hùng. Con người như vậy
nhưng hành hiệp đạo nghĩa, bệnh vực kẻ yếu, trừ ác gian
tà.
Ở Sài Gòn, khi chính quyền
ban hành "Sắc Luật 007" để kiểm soát báo chí, Hội Chủ
Báo, Hội Ký Giả Việt Nam, Hội Ký Giả Nam Việt và Hội
Ái Hữu Ký Giả xuống đường ngày 10/10/1974 "Ký Giả Đi Ăn
Mày" tại Sài Gòn. Lợi dụng thời cơ, phần từ năm vùng,
phản kháng, a dua bị gậy phản đối chính quyền. Từ đó,
hình ảnh "cái bang" trở thành quen thuộc.
Nay, với tuyển tập về
Quảng Nam, dù 25 năm trôi qua (1996-2021) nhưng với nhân vật
Quảng Nam nổi tiếng trong nhiều lãnh vực thơ văn, dịch giả
và triết học: Bùi Giáng. Con người bất hạnh trong cuộc
sống nhưng sáng tác của ông là gia tài quý báu trong dòng
sinh mệnh văn học của miền Nam VN - VTrD
*
"Mùa xuân hẹn thu về em trở
lại
Bên đời đi còn giữ mãi
hay không
Giòng bất tuyệt xanh ngần
xuân thơ dại
Sầu hoang vu vĩnh hạ vọng
non hồng"
(Bùi Giáng)
Bước vào năm Bính Tý (1996),
Bùi Giáng vừa tròn tuổi thất thập. Với cuộc sống lang
bạt kỳ hồ, túi vải, chân đất, lang thang giữa chợ đời,
gầm cầu, hè phố, dầm sương dãi nắng, bữa đói bữa no
gần 4 thập niên, qua bao thăng trầm bệnh tật, vẫn còn sáng
tác ở tuổi cổ lai hy, đó là một hiện tượng. Ông ký nhiều
bút hiệu, trong đó có: Trung Niên Thi Sĩ, Thi Sĩ, Bùi Bàn Dúi,
Bàng Giúi, Bùi Văn Bốn, Vân Mồng (truyện dịch Khung Cửa
Hẹp, Hoàng Tử Bé)...
Trong sinh hoạt Văn Học Nghệ
Thuật, Bùi Giáng để lại cho đời biết bao giai thoại từ
trí tuệ đến con người, đó là một hiện tượng. Ngôn ngữ
thi ca của Bùi Giáng là một hiện tượng. Tình yêu (nếu có)
dù dơn phương cũng là hiện tượng. Chữ nghĩa, tư tưởng
Bùi Giáng có sẵn trong đầu, khi yều cầu bài viết, lấy
giấy viết ngay. Hiện tượng Bùi Giáng.
Bùi Giáng, nhà giáo, dịch giả,
nhà văn, nhà phê bình văn học, triết học nhưng đó chỉ
là quán bên đường, người bạn tri kỷ tri bỉ: thi ca.
* Ngược Dòng Thời Gian
Bùi Giáng sinh ngày 17 tháng
12 năm 1926 tại Vĩnh Trinh, Duy Xuyên, Quảng Nam. Thân phụ là
ông Bùi Thuyên, thường gọi là Cửu Tý. Ông Cửu Tý thỉnh
thoảng bị bệnh "điên" và khi "điên" thì làm bộ cưỡi ngựa
bằng mo cau đi từ làng Trung Phước đến làng Cà Tang đọc
thơ, làm câu đối thích chọc ghẹo cô gái cho vui. Ông Cửu
Tý lấy người vợ kế Huỳnh Thị Kiền, sinh ra Bùi Giáng.
Theo thứ tự trong gia đình, ông thứ sáu nên gọi là Sáu Giáng.
Nhà thờ Tộc Bùi với gia phả ghi lại nơi đây và sau nầy
có thêm ở Sài Gòn.
Năm 1933 bắt đầu đi học
tại trường làng Thanh Châu với thầy Cù Đình Quý. Năm 1936
học ở trường làng Bảo An với thầy Lê Trí Viễn. Tiếp
tục theo học tiểu học ở Hội An, Quảng Nam rồi sau đó
chuyển sang học trung học ở Thuận Hóa, Huế. Năm 1945 đậu
bằng Thành Chung (Văn bằng nầy thời đó gọi là Cao Đ(a)̉ng
Tiểu Học, tiếng Pháp là Diplôme d’Etudes Primaire Superieur
Franco-Indigènes, còn gọi là Brevet Primaires, người Việt
thường gọi là b(a)̀ng Thành Chung, b(a)̀ng Diplôme). Trong
năm nầy, ông 19 tuổi, cưới vợ là bà Phạm Thị Ninh, gọi
là Vãn Ninh, rất xinh, con ông bà Phán Trai ở Hội An.
Thời điểm nầy, tình hình
biến động, ông đưa vợ về quê sinh sống, nhưng tai họa
ập đến, vợ qua đời! Ông đau khổ, chán chường rời cố
hương. Thiên tình sử của ông rất đặc biệt. Khi còn học
ở trường Viên Minh, Hội An. Nữ sinh Phạm Thị Ninh, học
sau ông một lớp, nổi tiếng xinh đẹp, quen biết nhau rồi
cưới làm vợ tại Hội An. Năm 1945 gia đình bà Phạm Thị
Ninh tản cư lên Trung Phước, ông đem vợ lên rồi mua một
đàn dê để đi chăn. Ông nuôi dê để rong chơi và còn đặt
tên cho mỗi con dê rất kỳ lạ.
Theo nhà thơ Tường Linh, học
trò học tiếng Pháp của Bùi Giáng, vào một buổi sáng, trời
mưa dầm dề, Bùi Giáng đang ở trên núi thì nghe tin vợ mình
qua đời. Ông hốt hoảng chạy ra ngoài trời và vấp vào một
gốc cây, ngã xuống bất tỉnh. Người vợ mà ông rất yêu
thương, sau này ông thường gọi là "con mọi nhỏ", bị bạo
bệnh và mất vào năm 1952, lúc mới 26 tuổi. Ông thôi hẳn
việc chăn dê, chia tay hẳn với cỏ hoa hồn du mục để xuôi
về phố thị rộn ràng.
Năm 1950 ông đỗ Tú Tài II
(Baccalauréat Deuxième Partie). Ông ra Liên Khu IV (Thanh Nghệ Bình
Trị Thiên) theo học đại học nhưng khi nghe Viện Trưởng
đại học đọc diễn văn, ông bỏ ý định theo học và theo
đường núi Trường Sơn trở lại cố hương. Tháng 5 năm 1952,
ông ra Huế thi lấy bằng tú tài tương đương cho hợp lệ.
Theo lời người bào đệ, cùng
cha khác mẹ, ông Bùi Vịnh, trong ngày Hội Thi Văn & Tư
Tưởng Bùi Giáng ngày 21 tháng 10 năm 1995 tại Majestic, Huntington
Beach, California, Bùi Giáng "Có vợ vào lúc còn rất trẻ, sau
năm 1945. Nhưng vì đi tản cư ở vào những nơi rừng thiêng
nước độc, người vợ trẻ đã qua đời sau cơn bạo bệnh".
Ông chung tình chung nghĩa với "mộng ban đầu", suốt nửa thế
kỷ ôm vọng tưởng, điên loạn bởi "hồn nguyên tiêu" bao
nhiêu hình ảnh mang dáng dấp của người tình muôn thuở vào
cõi thiên thu, ngôn ngữ Bùi Giáng trở thành kỳ bí.
"Vào tháng Năm 1957, ông quyết
định bỏ vùng Việt Minh trốn qua vùng Quốc Gia. Và tại Huế,
ông thi lại bằng Tú Tài tương đương, rồi vào Sài Gòn,
ghi danh vào đại học Văn Khoa. Cả lần nầy nữa, sau khi nhìn
danh sách các giáo sư giảng dạy, ông đã quyết định chấm
dứt việc học ở trường của mình tại đây. Ông bắt đầu
viết khảo luận, sáng tác và đi dạy học ở các trường
trung học tư thục..." (Bùi Vịnh).
Với dòng tộc Bùi lúc đó
nổi danh với bác sĩ Bùi Kiến Tín, trưởng nam của ông Bùi
Biên (ông Cửu Thứ) và bà Phan Thị Yến. BS Tín tham gia vào
nội các của Thủ Tướng Ngô Đình Diệm với chức vụ Bộ
Trưởng Bộ Thông Tin (1954). Sau khi nền Đệ Nhất Cộng Hòa
được thiết lập, ông không tham chính và phục vụ trong quân
đội với cấp bậc Y sĩ Trung Tá, sau đó giữ chức Y sĩ Trưởng
Phủ Tổng Thống và Lữ Đoàn Liên Binh Phòng Vệ Phủ Tổng
Thống (1960). Bùi Giáng đã tham gia trong thời kỳ Việt Minh
nhưng có lẽ "cái bóng" của người anh bà con nên chính quyền
không theo dõi ông nhưng ông nhờ vã gì vào "cái bóng" để
lập thân.
Ông có năng khiếu về ngoại
ngữ, tinh tường về Anh, Ðức, Pháp và Hán văn, không biết
ông theo học tiếng Ðức và tiếng Anh lúc nào nhưng khi nghiên
cứu triết học Ðức, thơ văn Anh Mỹ, ông dịch và viết
rất tài tình. Ông có trí nhớ kỳ lạ và "trí quên" rất
độc đáo. Quên của ông cũng là hiện tượng và có lúc không
biết gì cả, cùng với cử chỉ, hành động kỳ quái, người
điên thời đại.
GS Vũ Ký, thầy dạy của ông,
trong bài "Nhớ Về Ba Người Em Lỗi Lạc" trong Giai phẩm Quảng
Ðà 94 "Từ năm 1943 ấy, Bùi Giáng thôi học ở Hội An, rồi
lui về cố hương làm Tô Vũ mục dương ở Trung Phước, miền
rừng núi xứ Quảng. Theo nhiều người cho biết, Bùi Giáng
nghêu ngao làm thơ, ca hát, điên khùng suốt năm tháng. Lúc
tôi gặp lại ở Sài Gòn thì Bùi Giáng đã nghỉ dạy học
tư để cầm cọ bôi mực loay hoay vẽ tranh trong căn nhà lụp
xụp ỏ ngõ hẻm Trương Minh Giảng và Bùi Giáng cũng vừa
mới in xong mấy cuốn sách giáo khoa".
"Với Tất Cả Bùi Giáng" của
Trần Phong Giao, Bùi Giáng "Lập gia đình năm 18 tuổi, nhưng
không được hưởng hạnh phúc bao lâu vì chiến tranh và nạn
lụt đã cướp mất vợ và hai đứa con thơ của ông".
Ðó là mốc thời gian tuổi
niên thiếu của ông được đề cập qua ba người có liên
quan với ông nhưng đã khác nhau. Theo sự ghi lại của "người
thầy cũ và cũng là người anh" thiếu chính xác thời điểm
quan trọng trong giai đoạn trong 9 năm "kháng chiến" đã ảnh
hưởng sâu đậm trong cuộc đời Bùi Giáng. Ông tham gia "kháng
chiến", theo Việt Minh nhưng khi đụng chạm thực tế, ông
ngán ngẫm, gặp bất hạnh trong tình yêu, tâm hồn điên loạn...
Sau 3 năm "chia cắt" đất nước,
phân ranh Quốc/Cộng, ông mới chọn lựa quyết định ranh
giới giữa 2 miền. Bài thơ "Nỗi Lòng Tô Vũ" của ông đã
ghi "Kỷ niệm một đoạn đường mười năm chăn dê ở núi
đồi Trung Việt".
Không bao giờ muốn và để
ai đề cập "tiểu sử", theo ông "Thi sĩ sinh ra như mọi người
giữa cỏ cây ly kỳ, và chết đi giữa cỏ cây ly kỳ, gay
cấn". Và hai câu thơ của ông: "Người điên mang một nỗi
buồn. Chưa bao giờ biết cội nguồn từ đâu" để trả
lời với tha nhân. Tuy nhiên, công việc của nhà nghiên cứu
văn học cần phải tìm hiểu chính xác, nhìn lại Văn Học
Việt Nam, ông là khuôn mặt đặc biệt trong văn giới. Từ
tuổi thơ đến thời điểm "tam thập nhi lập" (1926-1956) trải
qua nhiều giai đoạn thăng trầm, nỗi đau tột cùng trong tình
yêu. Vì vậy, trước năm 1975, nhiều cây bút viết về tư
tưởng, thơ văn Bùi Giáng nhưng không đề cập về "tiểu
sử" nên có nhiều nghi vấn cùng với giai thoại quanh ông.
Tháng 5,1973, Mai Thảo và Nguyễn
Xuân Hoàng của tờ Văn thực hiện "Số báo đặc biệt về
thiên tài thi ca Bùi Giáng", 10 câu hỏi của Nguyễn Xuân Hoàng
về Bùi Giáng có tính cách khác lại và cả hai cùng hỏi và
nói "Chuyện rong chơi". Nhận định thơ văn của ông với Thanh
Tâm Tuyền, Nam Chữ, Trần Tuấn Kiệt, Tuệ Sĩ... Với ông,
sáng tác chẳng có liên quan gì với tiểu sử, trong thơ đã
chứa đựng đoạn đường trải qua.
Có nhiều tác phẩm đã đề
cập đến ông, điển hình như Cao Thế Dung với Văn Học Hiện
Ðại: Thi Ca & Thi Nhân; Năm Sắc Diện, Năm Ðịnh Mệnh
của Du Tử Lê; Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay của Tạ
Tỵ; Thi Ca Việt Nam Hiện Ðại của Trần Tuấn Kiệt...
Sau tháng Tư năm 1975, cái bang
Bùi Giáng với nhiều giai thoại và mỗi giai thoại nói lên
cái điên, cái tỉnh trong cảnh khốn cùng của xã hội. Một
Bùi Giáng quằn quại, một Bùi Giáng ngông nghênh, một Bùi
Giáng vào tù ra khám... và một Bùi Giáng cuồng sĩ bất khuất.
* Tác Phẩm

Gần hai thập niên ở Sài Gòn,
tác phẩm của ông với số lượng đáng kể:
Sách Giáo Khoa, Luận Đề: -
Bà Huyện Thanh Quan, 1956 - Lục Vân Tiên, 1956 - Chinh Phụ Ngâm
& Quan Âm Thị Kính, 1956 - Truyện Kiều & Truyện Phan
Trần, 1957 - Cung Oán Ngâm khúc, 1957 - Nguyễn Công Trứ, 1957
- Tản Ðà Nguyễn Khắc Hiếu, 1958 - Phan Bội Châu, 1958 - Chu
Mạnh Trinh, 1958 - Tôn Thọ Tường & Phan Văn Trị, 1958...
Sách Dịch: - Cõi Người Ta
của Saint-Exupéry, 1966 - Trăng Tỳ Hải của Albert Camus, André
Gide, Martin Heidegger, 1966 - Khung Cửa Hẹp của A. Gide, 1966 -
Hoa Ngõ Hạnh của Shakespeare, 1966 - Bạo Chúa Caligula của Albert
Camus, 1967 - 1974 - Kim Kiếm Ðiêu Linh của Ngọa Long Sinh, 1967
- Ngộ Nhận của A. Camus,1967 - Con Người Phản Kháng của A.
Camus, 1968 - Mùa Hè Sa Mạc của A. Camus , 1968 - Kẻ Vô Luân
của A. Gide, 1968 - Orphélia Hamlet của Shakespeare, 1969 - Hòa Âm
Ðiền Dã của A. Gide, 1969 - Sương Bình Nguyên của các tác
giả Âu Mỹ, 1969 - Hoàng Tử Bé của Saint-Exupery, 1973 - Mùi
Hương Xuân Sắc của Gerald de Narval, 1974... Ông dịch rất thoáng,
có khi không theo nguyên tác mà theo ý văn để diễn đạt.
Còn sáng tác thơ tặng tác giả. Ông dịch Kim Kiếm Ðiêu Linh
của Ngọa Long Sinh để học thêm chữ Hán. Tác phẩm Nhà Sư
Vướng Lụy của nhà văn Trung Hoa, nhà sư tên là Tô Mạn Thù
(Su Manshu), Bùi Giáng dịch từ nguyên tác, Quế Sơn xuất bản
năm 1969. (Có bản dịch sang tiếng Anh The Lone Swan của Geoege
Kin Leung
Sáng Tác:
- Thơ: Mưa Nguồn, 1962 - Ngàn
Thu Rớt Hột, 1962 - Bài Ca Quần Ðảo, 1962 - Lá Hoa Cồn, 1963
- Màu Hoa Trên Ngàn, 1963 - Sa Mạc Trường Ca, 1969 - Rong Rêu,
1970 - Ðêm Ngóng Trăng, 1972...
- Biên Khảo, Tạp Văn, Tùy
Bút: - Tư Tưởng Hiện Ðại, 3 quyển, 1960 & 1962 - Martin
Heidegger & Tư Tưởng Hiện Ðại, 2 quyển, 1963 - Sao Là Không
Có Triết Học Heidegger, 1969 - Ði Vào Cõi Thơ, 1969 - Thi Ca Tư
Tưởng, 1969 - Sa Mạc Phát Tiết, 1969 - Sương Bình Nguyên, 1969
- Trăng Châu Thổ, 1969 - Mùa Xuân Trong Thi Ca, 1969 - Thúy Vân,
Tam Hợp Ðạo Cô, 1969 - Mùa Thu trong Thi Ca, 1970 - Biển Ðông
Xe Cát, 1970 - Ngày Tháng Ngao Du, 1971 - Ðường Ði Trong Rừng,
1972 - Lời Cố Quận, 1972 - Lễ Hội Tháng Ba, 1972 - Con Ðường
Ngã Ba, 1973...
Năm 1965 nhà ông bị cháy làm
mất nhiều bản thảo của ông. Năm 1969 ông "bắt đầu điên
rực rỡ" nhưng được các nhà xuất bản in nhiều tác phẩm
nhất. Sau đó, ông "lang thang du hành Lục Tỉnh", trong đó có
Long Xuyên, Châu Đốc... cho thỏa ý nguyện. Thầy Thanh Tuệ,
giám đốc nhà xuất bản An Tiêm, rất thân với Bùi Giáng
và lo ấn hành tác phẩm. Nói đến Bùi Giáng, con người nhập
tâm Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du. Có lần ông dạy Việt
Văn, khi đề cập đến Thúy Kiều bán mình chuộc cha, ông
khóc nức nỡ. Ngay trong tác phẩm viết về triết học, ông
cũng dẫn chứng tư tưởng đó có trong thơ Kiều. Và, trong
các tác phẩm Âu Châu qua bản dịch của ông cũng thấp thoáng
"hồn Nguyễn Du" thấp thoáng. Với những tác phẩm được
ấn hành, tuy có nhiều tiền tác quyền nhưng ông "thú vui kẻ
sĩ" không lưu giữ, "nướng" cho thú vui trong lối sống giang
hồ bạt mạng trên đường phố...
Năm 1970, Bùi Giáng phải đưa
vào chữa trị ở nhà thương điên Biên Hòa. Khi vào bệnh
viện ông đối đáp với bác sĩ nên không biết đâu là "trí
óc rối loạn". Và trong năm đó, ông đã cho in Biển Đông
Xe Cát và Mùa Thu Trong Thi Ca. Kế tiếp với những tác phẩm
cho đến năm 1973... (Theo người bạn thâm niên Bùi Như Hải
thì dòng họ anh có vài người bị bất thường "điên" nhưng
chỉ khoảng thời gian nào đó thôi, và thường tái phát vào
mùa hè, trời nóng bức).
Sau biến cố tang thương năm
1975, Bùi Giáng điên nặng. Cái điên vì thời cuộc của ông
"hành khát Cái Bang" được ghi lại với nhiều giai thoại.
Vừa điên vừa khôn trong "bức tranh vân cẩu" vừa thương
ông vừa nể phục. Từ đó, Bùi Giáng sống lang thang bên lề
xã hội!.
Người điên Bùi Giáng cũng
bị nhốt 3 tháng ở trại giam Gia Ðịnh. Ông bất chấp tất
cả. Ông gọi mầy tao khi bị hỏi cung, thản nhiên với thức
ăn "cặn bả" của con người mà không bị nhiễm trùng. Thế
rồi, tháng ngày sau đó, theo Phạm Xuân Ðài "Cuộc sống của
anh tại Sài Gòn hiện nay là của một cuồng sĩ, khi thì thu
mình trong túp lều của anh tạ một khu vườn bên Gia Ðịnh,
khi thì lang thang vô định trong cơn điên... Ði lang thang hàng
chục cây số bất kể nắng mưa, múa may la hét suốt mấy
ngày liền, kẻ lực sĩ chưa chắc đã làm được". Thế nhưng
"Bùi Giáng như một ngọn lửa cháy liên tục mấy mươi năm
nay trong thế giới thơ ca - của anh và của chúng ta. Ngọn
lửa có khi thu lại thành một đám nhỏ, có khi bùng lên dữ
dội, có khi bị gió bão lắt lay, nhưng vẫn là nguyên một
ngọn lửa ấy từ đầu cho đến bây giờ".
Hình ảnh ông già tuy mới năm
mươi lúc đó, mặc quái dị, đủ màu sắc, đeo đủ thứ,
tóc tai dài phủ ót, rối bù, mang kính cận thị nặng, cầm
một cái gậy múa may quay cuồng trên đường...
Nơi nào ông xuất hiện, đám
đông vây quanh, nhất là trẻ con bu quanh "diễn viên Cái Bang"
náo nhiệt. Ông xuất thần với những câu thơ, được truyền
tụng lại, thật hư không biết nhưng cái điên của ông mới
bạo gan chửi chế độ như vậy. Từ đó "Cái Bang 9 túi" lang
bạt suốt hai thập niên. Bất kể mưa nắng, màn trời chiếu
đất, thân xác gầy còm... thế mà sống thọ qua tuổi thất
thập.
"Có hôm gặp ông ngoài đường.
Ông mặc quân phục chế độ cũ, lon lá huy chương đầy mình.
Mọi người sợ hết hồn, vì thời gian ấy các sĩ quan chế
độ cũ phải lên đường đi học tập cải tạo kẻ nào trốn
cũng khó thoát khỏi lưới tình báo nhân dân" (Nguyễn Thụy
Long - Giữa Đêm Trường).
Ông cũng tự giải thích:
"Tôi điên là bởi tôi điên
Cầm tay cô hỏi cho phiền
lòng nhau
Tôi điên từ trước đến
sau..."
(Bùi Giáng, "Thơ Bùi Giáng,
hải ngoại 1990")
Sống chết với ông như lời
tự nguyện:
"Hãy mang tôi tới giữa đời
Giết tôi chết giữa cõi
đời mốc meo
Hãy mang tôi tới nắng chiều
Giết tôi chết giữa một
chiều khe nương"
(Sa Mạc Trường Ca, 1969)
Tại hải ngoại, có 3 tuyển
tập về thơ Bùi Giáng sáng tác vào sau năm 1975:
- Thơ Bùi Giáng, năm 1990, nhóm
Việt Thường ở Canada thực hiện, gần 200 bài thơ.
- Thơ Bùi Giáng, Thế Kỷ 1994,
Phạm Xuân Ðài thực hiện, gồm 106 bài thơ.
- Thơ Bùi Giáng, California 1995,
Bùi Vịnh & thân hữu thực hiện, gồm 81 bài thơ, tranh
bìa "Thiếu Nữ" do Bùi Giáng vẽ.
- Chớp Biển, Anaheim, 1996
Suốt 4 thập niên, Bùi Giáng
đã cống hiến cho đời, cho nền Văn Học Nghệ Thuật Việt
Nam thật nhiều tác phẩm gồm đủ mọi thể loại. Một con
người không có nơi nương tựa ổn định, thể chất gầy
gò, bệnh tật, tâm tính lúc bình thường khi điên loạn mà
tạo dựng "kho tàng quý báu" cho Văn học Việt Nam, điều rất
lạ, không thể hiểu được.
* Ngôn Ngữ & Cuộc Sống
Gần gũi, tiếp xúc với Bùi
Giáng, mỗi lần, có thể nói giai thoại về ông, thương mến,
cảm quý con người tài hoa nhưng sống đầy khổ hạnh.
Viết về Bùi Giáng, với Mai
Thảo: "Bùi Giáng chất ngất một trời chữ nghĩa, Bùi Giáng
trùng trùng một biển văn chương... Sự hình thành một tác
phẩm nơi Bùi Giáng cuối cùng vẫn còn là một bí ẩn hoàn
toàn trong cái vùn nụt, cái bất tuyệt thao thao, cái chớp
mắt đã là của nó... Bùi Giáng đã đem lại cuộc đời biết
bao nhiêu châu ngọc. Bằng tài thơ trác tuyệt. Bằng ngôn ngữ
ảo diệu, không tiền khoáng hậu. Có ông, thi ca mới đích
thực có biển có trời. Từ ấy, thi ca mới không cùng không
tận".
Thế mà, chân dung, đời sống
của nhà thơ "Mái tóc ông đổi màu. Mấy chiếc răng cửa
bị gãy, nụ cười vừa trẻ thơ vừa móm mém. Cặp mắt sâu
hoắm xa khuất dần với mọi hình hài thực tế... Ông ấy
chỉ còn da bọc xương trong quần áo thùng thình, mái tóc dài
đạo sĩ, cái túi vải còn thêm cây gậy... Có lúc thấy nói
ông đeo một xâu chuỗi toàn giày dép và quần áo phụ nữ
quanh cổ như một vòng gai quái dị, đám con nít reo hò chỉ
chỏ người điên, người điên. Có khi nghe thấy, ông ẩn
lánh ở ngôi chùa vùng ngoại ô thành phố, ăn chay niệm Phật
cả ngày không nói". "Bùi Giáng cũng tạo được một cái lạ
mà theo tôi là một cái ngang...
"Trần gian lắm kẻ không
cơm áo
Mà con thờ thẩn cứ nhìn
trăng."
Bùi Giáng có cái giọng bạt
đó và cái giọng bạt đã ảnh hưởng vào âm vận của thơ
Giáng" (Uyên Thao - Thơ Việt Hiện Ðại).
Nhà giáo Vũ Ký, vị thầy của
bộ ba Bùi Giáng, Tạ Ký, Nguyễn Thùy từ lúc ở cố hương
đến khi cùng làm thấy giáo tại Sài Gòn, viết nhiều giai
thoại về Bùi Giáng, một Bùi Giáng thông minh, tài hoa, điên
khùng, lang bạt... một Bùi Giáng với tình yêu ảo tưởng
trong thơ văn và một Bùi Giáng lãng mạn với bóng hồng ở
tuổi 60. Không hiểu vì cơn gió nào, bỗng nhiên có hai cô,
một cô là ÐNLH (giáo viên trung học, người Huế) và một
cô là HHTV, cháu của nhà văn Cung Giũ Nguyên xách đồ đạc
đến nhà Thùy ở luôn 2 tháng. Thùy là bạn học, đồng hương
với Bùi Giáng, thường gặp gỡ nhau. (Bùi Giáng, Tạ Ký và
Nguyễn Thùy gặp nhau thì "Quảng Nam hay cãi" tuy bất đồng
nhưng không bất hòa, rất chân tình, quý mên nhau). Thế rồi
cô LH "Lại rất mến trọng Giáng, thường la cà với Giáng
tại nhiều quán cà phê, nhiều lúc tình tứ khiến mọi khách
trong quán rất ngạc nhiên". Ðó cũng là một hiện tượng,
thử tưởng tượng hình ảnh Ðại Lão Cái Bang ăn mặc rách
rưới kỳ dị lại song bước cùng bóng hồng tuổi còn đôi
mươi, tâm tình với nhau.
Bùi Giáng sống trong cảnh khốn
cùng của tuổi già mà ông tự chọn vì không muốn liên lụy
với người thân muốn lo cho ông. Khi tuổi già sức yếu ông
đành tá túc tại nhà người anh em chú bác (Bùi Võ) tại Bình
Thạnh, người thân lo chu đáo cho ông nhưng không thích bị
gò bó trong nhà trước khi qua đời sau khi bị đột quỵ (stroke),
sau những năm tháng sống "điên rồ lừng lẫy chết đi
sống lại vẻ vang" (chữ của Bùi Giáng). Thế nhưng, hơn
hai thập niên ở trong nước đã có vài bài viết về ông
với hình ảnh con người điên loạn, con người phản kháng
sống bên lề cuộc đời! Những tác phẩm của ông bị chôn
vùi theo thời gian trong cuộc sống tuổi già nhưng thơ văn
của ông với nguồi Việt hải ngoại vẫn giữ thế đứng
trong nền Văn Học của đất nước. Văn Chương, Nghệ Thuật
của ông như một cõi trời bao la, khác xa với tư tưởng của
người cầm bút theo giáo điều chủ trương "hiện thực xã
hội"!
Dẫn chứng vài cây bút tượng
trưng viết về ông ở trên cho thấy con người của ông bất
thường, đời sống của ông bất định, nay đây mai đó,
ngôn ngữ của ông có lúc thật huyễn hoặc, kỳ bí, lúc thật
bình dị, nhẹ nhàng, lúc thanh lúc tục. Quan niệm sáng tác
của ông "chơi mà thôi", chẳng có gì bận tâm, chẳng
có gì để bàn. Cuộc đời của ông ở giữa trần thế chỉ
là Ngày Tháng Ngao Du, rong chơi, ung dung tự tại.
Trước kia, Thượng Tọa Thích
Minh Châu dành cho ông căn phòng ở đại học Vạn Hạnh, ông
chỉ để sách vở rồi rong chơi đầu đường xó chợ, gặp
đâu ngủ đó bất kể nắng mưa, đêm ngày. Sau nầy, thân
nhân lo cho ông túp lều trong vườn ở Gia Ðịnh, căn phòng
nhỏ trên lầu ở đường Trần Quang Diệu Sài Gòn, ông để
đó, rong chơi dưới gầm cầu Công lý, vỉa hè.
Với ông, tư tưởng triết
học của M. Heidegger, Nietzsche, thi ca của Holderlin, Walt Whitman,
Emily Dickinson... Văn chương Pháp của A. Gide, St Exupery, A. Camus,
văn chương Anh của Shakespeare... Ông chọn lựa và chuyển ngữ
rất linh động, tài tình. Cuộc đời của ông điên, tỉnh,
ông đã đề cập trong tác phẩm, tình yêu huyễn hoặc thấy
bàng bạc trong thơ văn. Tư tưởng triết học, tư tưởng cao
siêu của con người, theo ông, đều có đề cập trong Kiều
của Nguyễn Du. Với Bùi Giáng, Truyện Kiều là một thứ "mê
hồn trận thị phi". Bùi Giáng tôn thờ Nguyễn Du và M. Heidegger
như "thánh nhân tư tưởng". Tác phẩm Martin Heidegger & Tư
Tưởng Hiện Ðại dày hơn một nghìn trang là một công trình
biên khảo triết học từ năm 1963, còn xa lạ với bộ môn
nầy ở miền Nam VN. Đôi lần tôi hỏi anh Trần Văn Nam, sau
khi tốt nghiệp cử nhân giáo khoa Triết Học Tây Phương, vừa
đi dạy, tiếp tục với luận án cao học về Hiện Tượng
Luận từ quan niệm của Husserl được thay đổi bởi M. Heidegger,
anh nói bộ môn nầy rất nhức đầu nhưng cũng từ tác phẩm
của Bùi Giáng nên anh chọn đề tài cho luận án.
Sức sáng tạo của ông rất
kỳ diệu. Như một tay võ công tuyệt luân khi xuất chiêu liên
tục bất tận. Trong một đêm, ông viết cả trăm trang cho
một tác phẩm. Gặp ông, hỏi thơ để đăng, ông sáng tác
ngay tại chỗ, viết như đã nhập tâm từ trước.
Với năng khiếu về ngoại
ngữ và cách học của ông, chọn tác phẩm để học, đọc,
tra cứu. Biết hết chữ nghĩa của tác phẩm là biết được
ngôn ngữ nước đó. Vì vậy, khi tìm hiểu M. Heidegger, ông
học tiếng Ðức mới hiểu được tư tưởng. Văn chương
Pháp, Anh, ông chuyển dịch từ nguyên tác. Chuyển ngữ lại
từ tác phẩm được chuyển ngữ (không nguyên bản) thì không
còn thoát được cái ý của nó. Chẳng hạn thi phẩm Ngàn
Thu Rớt Hột của ông nghe rất văn chương bóng bẩy, đó là
"hình ảnh cứt dê" bao năm ông gần gũi với nó trên núi rừng.
Làm sao chuyển ngữ thoát được cái âm điệu, hình ảnh bóng
bẩy đó được, hay thi phẩm "Lá Hoa Cồn", ẩn ngữ bí hiểm.
"Bây giờ đành chịu chia
xa
Em vào hang núi tôi ra hố
ngàn
Gửi linh hồn lại nhân
gian
Ôi người Hải Ngoại ôi
nàng Phương Tây".
(Bây Giờ Còn Lại - Lá Hoa
Cồn, 1963)
Có lần Huy Tưởng, nhà thơ
Tam Kỳ, Quảng Nam, gặp và hỏi chơi với ông chuyện chăn
dê có thi phẩm "rớt hột", nghe nói ông có chăn bò ở quê
đúng không? - Đúng! Đúng? đúng với cái đầu của họ. Rồi
cười thoải mái, xem như hỏi chơi, nghĩ chơi, đáp chơi rồi
thôi.
Nguồn thơ của ông dạt dào,
bất tận, ông viết nhiều về hình ảnh ở quê hương, ở
núi rừng Trung Việt. Ðiều bắt gặp trong thơ của ông với
chữ Kim ở đầu. "Người tình trong thơ" Kim Novak, Kim Cương.
Ngài ra với vài hình bóng các cô Kim... thấp thoáng:
"Ôi phương cảo! Ôi Kim Liên
Cảo thơm Kim Thúy diện
tiền Kim Hoa!
Ôi Kim Ngọc! Ôi Kim Nga
Chắc gì mai hậu mà ra phụ
lòng".
(Ra Hoa)
"Tuy nhiên hồn mộng chan
hòa
Ðầu tiên Kim Thúy, Kim Hoa
thập thành
Cuối cùng thừa thượng
Kim Thanh
Ði về vô tận tập thành
Kim Liên
Kim Nga, Kim Ngọc diện tiền
Ðầu sương cuối tuyết
thần tiên bấy chầy".
(Cuối Ngày Em Ði)
Ông lang thang với thời gian
quá dài cho một đời người, xem cuộc sống nhẹ như tơ hồng,
xem cuộc đời ảo thật, thật hư, thế gian đảo điên nhưng
đôi lúc tìm trong thơ ông mới cảm nhận được nỗi thống
khổ thiết tha cho mối tình đầu đời đã hoài công tìm lại:
"Chắp tay tôi lạy ông trời
Tìm người yêu giúp giùm
tôi một lần"
(Tìm Em)
Khi làm kẻ chăn dê và hình
ảnh nơi cố hương được mô tả qua dòng thơ rất tuyệt:
"Ðồi tăm tắp chạy về
ôm chân núi.
San sát đồi phủ phục
quấn núi xanh.
Chiều xuống rồi tơ lòng
rộn ràng rối.
Trời núi đồi ngây ngất
nhảy dê nhanh
Thôi từ nay tha hồ em mặc
sức
Nhảy múa tung sườn núi
vút giòng khe
Thôi từ nay tha hồ em mặc
sức
Vang vang lên đồi núi giọng
be be".
(Nỗi Lòng Tô Vũ)
Và, trong khung cảnh đó, ông
bày tỏ nỗi niềm cùng hình ảnh người yêu:
"Em nhớ hay không hồn hòa
dại cỏ
Những ngậm ngùi đầu núi
canh khuya
Vàng cao gót nai đầu truông
hãi sợ
Gió cây rung trút lá mộng
tan lìa"
(Nỗi Lòng Tô Vũ)
Ông lấy hình ảnh Tô Vũ đời
Hán Vũ Ðế, đi sứ sang Hung Nô bị giữ lại và đày đi chăn
dê gần hai thập niên. Vì vậy, nỗi lòng Tô Vũ là nỗi lòng
của kẻ lưu đày giữa chốn trần gian.
Hình ảnh người vợ, người
tình ban đầu, yêu thương say đắm, đã vĩnh viễn ra đi để
lại cho ông nỗi thống khổ với tình, với thủy chung hình
bóng cũ:
"Em chết bên bờ lúa
Ðể lại trên đường mòn...
... Ðêm cuồng mưa khóc
điên
Trăng cuồng khuya trốn gió...
... Anh đi về đô hội
Ngó phố thị mơ màng
Anh vùi thân trong tội lỗi
Chợt đêm nào gió bờ nọ
bay sang"
(Bờ Lúa – Mưa Nguồn, 1962)
"Miền cát lạnh chân lạc
đà bé bỏng
Bóng hình em tơi tả dưới
trăng rằm".
(Người Xưa – Mưa Nguồn)
Chỉ có Bùi Giáng và duy nhất
chỉ có ông mới gọi những "bóng hồng" bằng mẹ. Hiện hữu
hay ở phương trời xa xôi. Ông ngông đến thế, bỡn cợt
hay lòng thành kính, huyễn hoặc với ngôn ngữ thi ca, cũng
là hiện tượng.
Phùng Khánh và Phùng Thăng là
hai dịch giả nổi tiếng qua vài tác phẩm văn học, Phùng
Khánh
là ni sư giữa thập niên 60. Ông ngưỡng vọng hai dịch giả
nầy:
"Mẹ còn nhớ nữa con chăng
Mẫu thân Phùng Khánh con
hằng chẳng quên
... Phùng Thăng mẹ chớ
xui nên
Từng cơn điên dại khôn
đền cho con"...
"Con thương Phùng Khánh vô
ngần
Phùng Thăng thân mẫu cũng
gần như nhiên"...
Có lúc Bùi Giáng gọi là mẫu
thân Phùng Khánh, có lúc gọi là Trí Hải ni cô. Cùng lúc với
Marilyn Monroe, Kim Novak, Kim Cương nương tử... nên ông yêu điên
cuồng, nguyện làm đệ tử của thần ái tình.
Nhưng có khi ông coi mình như
vị vua với người tình:
"Trẫm ghé thăm em
Một bận này
Mai sau Trẫm sẽ
Nhớ hôm nay
Một lần Trẫm ghé
Thăm em thế
Suốt một bình sinh
Trẫm nhớ hoài"...
(Trẫm Ghé Thăm – Lá Hoa Cồn)
"Trẫm nhớ em như
Nhớ một người
Rất gần mà cũng
Rất xa xôi"...
(Trẫm Nhớ Em – Lá Hoa Cồn)
Bất hạnh trong tình trường,
ông rong ruổi trong nỗi bất hạnh đó qua ngôn ngữ bằng thơ,
văn, bằng trái tim rướm máu, bằng tài hoa lỗi lạc của
Bùi Giáng và có lẽ duy nhất với cái tên Bùi Giáng.
"Văn thơ cùng tư tưởng của
Bùi Giáng đi vào lịch sử văn học đất nước, đánh dấu
một giai thoại về Bùi Giáng sống cùng những cái "điên loạn,
ngông khùng" của Bùi Giáng, cũng sẽ được nhắc nhở hoài
trong văn chương, văn học" (GS Vũ Ký). Phải hiểu con người
Bùi Giáng mới cảm nhận được ý thơ, văn và tư tưởng
của ông, ông sáng tạo lúc tỉnh, ngao du lúc động để mãi
mãi đi tìm hình ảnh xa thẳm, mịt mù! Hồn thơ luôn luôn
chất chứa trong Bùi Giáng, bất luận ngày đêm, gặp đối
tượng khơi động, dòng thơ tuôn trào. Tâm hồn Bùi Giáng
chu du, mộng mị khắp bốn phương trời để "thơ và giai nhân"
kết tinh thành "thiên cổ lụy" ngất ngây, nồng nàn, say đắm
hòa cùng điên dại trong ngôn ngữ thi ca. Viết về bản thân,
ông phơi bày cái tốt, cái xấu, khi tỉnh, khi điên... nhưng
mọi người vẫn quý mến, thán phục tài năng của ông.
Với thi ca, nó nhập vào trái
tim, tâm hồn, định mệnh ông khi điên, lúc tỉnh, khi hoan
lạc, lúc khổ đau... Ý thơ, hồn thơ, chất thơ... của Bùi
Giáng nếu đề cập không đơn giản qua bài viết, cũng vài
trăm trang sách.
Một hình bóng, suốt cả cuộc
đời trôi nổi với hệ lụy khổ đau, một nhân tài không
bao giờ có được mùa xuân nhưng với tâm hồn thanh thoát,
ông không quan tâm mọi người nhìn ông với đầu tóc bù xù,
áo quần tả tơi, kỳ quái trên đường phố... mà tự bản
thân ông cho mình rong chơi trong cõi ta bà mộng mị với "Ngày
Tháng Ngao Du"...
Khi còn sống ở giai đoạn
cuối đời, Bùi Giáng bị bỏ quên từ con người đến tác
phẩm ở trong nước. Khi ông qua đời, nhiều người "làm văn
tế ruồi" như Kim Cương với "nước mắt cá sấu" được
báo chí tung hê. Tình đời là vậy! Bùi Giáng bỏ lại bao
mối tình đơn phương cô độc để trở về với người vợ
năm xưa nơi cố hương, vĩnh viễn bên nhau nơi cõi thiên thu.
Vương
Trùng Dương
(1996 –
viết thêm khi Bùi Giáng mất 1998)