Nếu con gái
và con rể chúng tôi không chuyển đến đó làm việc thì
chắc chúng tôi không bao giờ nghĩ đi đến nơi đó.
Khi chúng tôi báo cho bạn bè
biết là chúng tôi sẽ đi thăm gia đình con gái ở Colombia
thì có nhiều người lo ngại vì xứ đó là một nơi hỗn
loạn, chiến tranh ma túy, giết người như nghóe, nhưng cũng
có người gây hứng thú cho chúng tôi, vì đó là nơi mà
là một nhà văn được giải Nobel với tác phẩm " Trăm
Năm Cô Đơn", cái tên truyện khá hấp dẫn được cả
thế giới biết đến của nhà văn Grabiel Garcia Marquez.
Trong thời gian nhiệm kỳ
ba năm của con rể tôi, chúng tôi đã đến thủ đô Bogota,
của Colombia hai lần. Lần nào cũng ở đó đến mấy
tuần, tạm đủ để đi thăm nhiều nơi trong thành phố và
một vài vùng lân cận. Bogota nằm trên cao độ 8660ft so với
mặt biển, nên khí hậu lúc nào cũng êm dịu. Là một trong
những thành phố lớn nhất của Châu Mỹ La tinh, dân số hiện
nay ước chừng 8 triệu người, từng được mệnh danh là
"The Athen of South America".
Dân số Colombia trên 50 triệu
người. Diện tích khoảng 440.000 square miles, (So với Việt
Nam dân số trên 97 triệu và diện tích chỉ là 127,882
square miles). Hầu hết theo đạo Thiên Chúa. Tỷ số đô
thị hóa khá cao 80% , còn lại 20% sống tại nông thôn.
Lợi tức cá nhân rất xa cách. Thành phố mở rộng
ra ngoài ven đô với nhiều cao ốc, trong khi đó, nhiều
nơi đồng ruộng chúng tôi đi qua bỏ hoang, xác xơ. Xứ
này, sản xuất dứa, thơm đứng hàng thứ 10 thế giới,
avocado hàng thứ 5, về hoa xuất cảng sang Mỹ khá nhiều
thường thấy trong các siêu thị lớn.
Trong thập niên 1990, Columbia từng
bị liệt là một thành phố có nhiều tội phạm nhất thế
giới, với tỉ lệ là 81 người bị giết trên 100,000 người.
Nhờ chính sách "Communidad Segura" (safe community) thành công,
tỉ lệ này ngày càng hạ xuống thấp chỉ còn là 25 trong
năm 2018. Tại Mỹ, đứng đầu là Delaware 11.7, Louisana 11.4.
trong khi đó California 4.4. Trên thế giới đứng đầu là
Lesotho 41.25, Hondura 38.93, South Africa 36.40. Tuy nhiên, đối với
nhiều người bên ngoài, nỗi ám ảnh về hình ành cũ của
Colombia vẫn chưa tan hẳn. Ma túy vẫn là nỗi bất an,
đồng thời cũng là nguồn thu nhập của xứ này.
Đối với chúng tôi trong những
ngày ở đó, Bogota là một thành phố an bình, mọi người
ngoài phố ăn mặc lịch sự, chỉnh đốn. Phố xá không có
rác. Trong một chuyến xe bus ở phi trường, vừa thấy chúng
tôi lên, hai người đã đứng dậy nhường ghế. Chỉ phiền
một nỗi là rất ít người nói tiếng Anh. Giao thông cũng
có giờ kẹt xe, nhưng không đến nỗi gây tắc nghẽn. Họ
giải quyết bằng cách chia xe số chẵn số lẻ, cách một
ngày mới được phép chạy trong thành phố. Họ đã giảm
được nửa số lượng xe lưu thông trong một ngày cho
thành phố. Một số người có khả năng đã mua hai xe giữ
hai số chẵn lẻ. Xe cộ không bóp còi inh ỏi, phương tiện
di chuyển hầu hết bằng xe hơi. Vỉa hè nhiều chỗ của họ
rất rộng, nhiều khu hai bên bằng 4 lằn xe, thế mà chỉ
có hai ba lằn xe mỗi chiều dành cho xe hơi, nhưng không thấy
có một xe gắn máy nào chạy trên lề đường. Phương tiện
công cộng xe bus và xe van của tư nhân chỉ vài phút là
có một chuyến. Không thấy hàng quán chiếm lề đường.
Ngoài xa lộ, nhiều nơi khoảng giữa chia hai chiều nhiều
nơi rộng như một công viên trải dài, cây cối xanh tươi
được chăm sóc cẩn thận. Chúng tôi nói với nhau sao họ
không thu hẹp vỉa hè và khoảng cách giữa hai chiều để
nới rộng thêm lằn cho xe hơi thì giao thông sẽ thoải mái
hơn nhiều. Chắc hẳn họ đã nghĩ hi sinh cái này để giữ
cái kia, cho người đi bộ được an toàn và thành phố thêm
được nhiều cây xanh. Tại những địa điểm du lịch, cũng
có nhiều người bán hàng rong đến mời chào, nếu không muốn
mua chỉ cần nói một tiếng cám ơn gracias là họ đi
ngay, không đeo lằng nhằng, co quéo. Có một số nhỏ tiệm
fast food như McDonald, Starsbuck mới len vào mở một vài tiệm
đầu tiên, nhưng phải dùng cà phê bản xứ. Tiệm ăn Á
châu rất ít. Các tiệm ăn của họ phần đông trang trí trang
nhã, và tiếp đãi lịch sự đúng tiêu chuần mà giá chỉ
bằng một ba so với ở Mỹ. Tại các siêu thị thực phẩm
nhập cảng cũng khó tìm thấy và rất đắt.
Chúng tôi cũng đã đến
Buenos Aires, Argentina theo con gái tôi trong thời gian ba năm
ở đó, nay là Colombia, có cảm tưởng rõ rệt là Nam
Mỹ La tinh vẫn giữ gần như nguyên bản sắc của họ và
rất ít chịu ảnh hưởng của thế giới bên ngoài về
mọi mặt, ngay cả với Hoa Kỳ.
Cà phê Colombia nổi tiếng thế
giới, Chúng tôi có thăm đồn điền "Café Plantation Hacienda
Coloma" cách Bogota hai giờ lái xe. Đường đồi núi quanh
co như cao nguyên Việt Nam. Trên đường đi, có các quán bán
thịt nướng không phải thịt rừng. Tại đồn điền này,
ngay khu mới vào, họ trồng rất nhiều lan treo dính vào các
cây cổ thụ, bên canh đó là những nhà cổ tích như trong
truyện Bạch Tuyết và Bẩy Chú Lùn. Chúng tôi được dẫn
đi và chỉ dẫn qua mọi giai đoạn từ khi ươm hạt trồng
cây cho dến giai đoạn chót xay thành bột cà phê, và cuối
cùng cầm ly nếm hương vị cà phê mới xay tưởng như mình
đang lạc vào một thiên đường cà phê.
Cà phê Colombia là một lọai
cà phê nổi tiếng thế giới, thuộc loại Arabica có hương
vị đặc biệt và được nhiều người ưa thích, khác với
cà phê Việt Nam là Robusta vị đắng hơn. Arabica cần một
khí hậu thích hợp, ít mưa hơn và giá cao gấp đôi Robusta.
Ngẫu nhiên có một mẫu cà phê Việt Nam ở đó, tôi hỏi
thì được biết, cà phê này được nhập cảng để chế
biến cho dân chúng dùng, còn cà phê Colombia để xuất cảng.
Tự nhiên, tôi thấy thương cho Việt Nam chỉ cố chạy theo
số lượng mà quên mất phẩm chất như gạo, cà phê, tiêu,
nước mắm... đã không những đánh mất thương hiệu và còn
mất giá thảm thương.
Chúng tôi đã đi thăm một
thi trấn cổ "Villa de Leyva", ba giờ lái xe, được tìm thấy
năm 1572. Những đường phố ở đó trải đá tảng cobblestone,
người và xe đã đi qua mấy trăm năm nên mặt đá nhẵn thín.
Có một nhà thờ cổ và một quảng trường lớn.
Đi thăm trung tâm thủ đô Bogota,
trong khu phố cổ của thành phố Bogota, ở đó có một quảng
trường cổ rộng hơn St. Mark square ở Venice, cũng có hàng
ngàn chim bồ câu, và có những con thú nhỏ giống như
lạc đà.
Trong khu này có Trung tâm Văn
Hoá Marquez và hai bảo tàng. Bảo tàng vàng là nơi hấp dẫn
hàng đầu của du khách, trưng bầy 55.000 hiên vật được
chế tác từ vàng, nổi tiếng nhất là tác phẩm kiệt tác
"Muisca Boat", chiếc bè bằng vàng bên trên là là những người
Muisca đang làm lễ tế thần.
Bảo tàng của Fernando Botero,
họa sĩ này đặc biệt nổi danh thế giới về những
họa phẩm cùng điêu khắc vẽ những người đàn bà,
đàn ông mập căng tròn.
Tượng
điêu khắc của Fernando Botero
Họa phẩm
của Fernando Botero
Trung tâm văn hóa Garcia Marquez
gần đó gồm một tiệm sách lớn, trưng bầy tại quầy
chính các ấn phẩm tái bản mới nhất của Marquez. Bên
ngoài sân trước là những cột xây kỷ niệm về Marquez
và một tiệm cà phê. Nhớ nhất là có mấy người
nhạc sĩ vỉa hè, mặc đồ bộ đuôi tôm đen, đội mũ
cao như kiểu Ăng Lê, đứng nghiêm chỉnh chơi các đàn
dây như đại hồ cầm, lục huyền cầm...Chúng tôi đứng
lại nghe một nhạc sĩ chơi vĩ cầm, anh ta chơi khá điêu
luyện, tôi cố nói chuyện và yêu cầu anh cho nghe thêm
mấy bản nhạc quốc tế quen thuộc nữa như Come Back to
Sorrento, La Paloma... Tôi tặng anh mấy đô la và từ giã
bắt chặt tay anh...
*
Chúng tôi lấy chuyến bay từ
Bogota, khoảng 45 phút để đến thành phố ven biển Cartagena,
nơi mà Marquez, để lại nhiều ghi dấu của cuộc đời và
sự nghiệp văn chương trên quê hương của ông. Marquez
đoạt giải thưởng Nobel về văn chương năm 1982, vừa qua
đời năm nay 2014 tại Mexico, nơi ông đã di trú 30 năm trong
đoạn cuối cuộc đời.
Grabriel Garcia
Marquez (1927-2014)
Cartagena xưa là thuộc địa
của Tây Ban Nha, thành lập năm 1503, nằm trên bờ biển Carabian,
được Unessco công nhận là di sản thế giới. Đặc biêt có
những đồn lũy cổ, xưa kia để chống lại tầu cướp
biển. Hiện nay là một thành phố du lịch, với gần một
triệu dân. Bãi biển khá rộng và dài đến chục miles
Chúng tôi đến thăm ngôi nhà
của Marquez, nhưng đến muộn họ đã đóng cửa. Đến thăm
quán Càfé Havana, mà Marquez đến hàng ngày trong lúc còn
sống, nay cũng đóng cửa để tân trang. Sau đó, chúng tôi
được giới thiệu đến một quán ăn mà Marquez thường
đến, vì chủ quán là bạn. Quán này được báo ở New York
cho vào mục food critic, là quán ăn nổi tiếng của Colombia.
Grabriel Garcia Marquez sinh năm
1927 tại Aracataca, một ngôi làng hẻo lánh ở miền Bắc Colombia.
Marquez là con cả trong một gia đình có tới 12 anh em. Cha mẹ
ông sớm rời đi nơi khác kiếm sống và Marquez chủ yếu
được ông bà nuôi dưỡng. Làng Aracatata, cũng như bà ngoại
ông với cá tính mạnh và một chút gì huyền bí, với hình
dáng hơi giống một bà phù thủy, chính là nguồn cảm hứng
để Marquez sau này tạo ra bối cảnh cho tiểu thuyết nổi
tiếng nhất của ông : "Trăm Năm Cô Đơn", mà bà ngoại
ông là hình bóng cho nhân vật nữ chính trong gia đình Buendia
trong truyện.
Marquez nguyên là một sinh viên
Luật khoa tại Bogota. Trường đóng cửa, về Cartagena làm báo,
và là một nhà báo tranh đấu, viết truyện ngắn, truyện
phim và truyện dài. Ông quen biết Hemmingway, chịu ảnh hưởng
của Faulkner, Kaffa. Và viết theo cách "Hiện Thực Huyền
ảo", (Magic Reality).
Những tác phẩm được nhắc
nhiều đến là:
- Ngài Đại Tá Chờ Thư,
(El coronel no tiene quien le escriba, 1959)
- Trăm Năm Cô Đơn, (Cien
años de soledad, 1967)
- Mùa Thu Của Trưởng Lão,
(El otoño del patriarca, 1975)
- Mối Tình Trong Thời Dịch
Tả, (El amor en los tiempos del colera,1985)
"Trăm năm cô đơn"
viết bằng tiếng Tây Ban Nha, được nhà xuất bản Sudamericana
cho in lần đầu vào năm 1967 tại Buenos Aires (Argentina). Đến
năm 1970, truyện được tái bản hơn nửa triệu bản, chưa
kể hai lần in ở Cuba là một trăm nghìn bản. Cho đến nay,
tác phẩm nổi tiếng của ông đã chuyển dịch qua hơn 35
ngôn ngữ trên thế giới trong đó có Việt Nam với 50 triệu
cuốn. "Trăm Năm Cô Đơn" được tặng giải Chianchiano
của Ý, được Pháp công nhận là cuốn sách hay nhất
trong năm và được giới phê bình văn học Mỹ đánh giá là
một trong 12 cuốn sách hay nhất trong thập niên 1960. Đây là
một kiệt tác của Marquez, đã mang đến cho tác giả vinh dự
đoạt giải Nobel Văn học vào năm 1982.
Bản dịch tiếng Việt của
dịch giả Nguyễn Trung Đức, với sự cộng tác của Phạm
Đình Lợi và Nguyễn Quốc Dũng, ở miền Bắc, họ dịch
thẳng từ nguyên bản tiếng Tây Ban Nha, cố giữ nguyên
bản nên đọc hơi khúc mắc. Họ đã dịch thêm nhiều tác
phẩm khác bằng tiếng Tây Ban Nha và đã có công đưa
văn học La Tinh cho các độc gỉả Việt Nam. Tuy vậy, Nguyễn
Trung Đức trong khi dịch chỉ giới thiệu các tác phẩm
văn chương nổi tiếng thế giới của Marquez, mà không
đề cập đến Marquez là người mê chủ nghĩa Cộng
Sản có hạng, nên bị chính quyền có ác cảm nặng với
dịch giả.
Trong khi đó ở miền Nam,
nhà văn Trùng Dương trong một bài được đăng trên Diễn
Đàn Thế Kỷ có viết, nhà văn Hoàng Hải Thủy đã dịch
xong cuốn này, lấy tên là "Trăm năm Quạnh Hiu". Đem
đưa kiểm duyệt, đã không được phép in vì cho là
Marquez theo Cộng Sản. Tôi rất thích đọc văn dịch phóng
tác của Hoàng Hải Thủy, như cuốn "Jane Eyre" qua bản dịch
"Kiều Giang", vừa văn chương, vừa lãng mạn lại
dễ đọc. Không hiểu bản dịch này nay ở đâu?

"Trăm Năm Cô Đơn" đã có
những đặc điểm về văn chương và thông điệp gì
cho mọi người, dịch giả Trương Duy Đức viết:
- Trăm năm cô đơn là câu chuyện
về dòng họ Buênđya tồn tại bảy thế hệ, có tới 60
nhân vật. Người đầu tiên bị trói vào gốc cây và người
cuối cùng bị kiến ăn. Một dòng họ tự lưu đày vào cõi
cô đơn để chạy trốn tội loạn luân.
- Điều gì khiến "Trăm năm
cô đơn" - một tiểu thuyết theo chủ nghĩa
"Hiện thực
huyền ảo", dày tới hơn 600 trang, chỉ kể về câu chuyện
loạn luân của một dòng họ ở một ngôi làng "huyền thoại",
dành được giải Nobel phải chăng tác phẩm đã đạt tới
hai mục tiêu cơ bản của giải thưởng. Đó là bút pháp độc
đáo, mới mẻ và ý nghĩa nhân văn của thông điệp tác phẩm
gửi tới người đọc.
- "Trăm năm cô đơn" được
đánh giá là sản phẩm tuyệt vời của hư cấu nghệ thuật.
Với bút pháp
"Hiện thực huyền ảo", Márquez đã dựng
nên một ngôi làng có tên gọi Macondo. Đó là ngôi làng không
một người dân nào sống quá ba mươi tuổi và chưa có nghĩa
địa, đã từng xảy ra những chuyện hoang đường như cơn
mưa hoa trong một đám tang, những con người được hoài thai
bởi bướm và bọ cạp, những người có đuôi, có người
bay lên trời không trở lại... Ở ngôi làng đó, những người
con trai và con gái cùng huyết thống đã yêu nhau, lấy nhau,
sinh ra những đứa con dị tật có đuôi như lợn hoặc như
khỉ!
- Nỗi ám ảnh về tội loạn
luân đã đẩy những con người nơi đây chìm sâu vào nỗi
cô đơn. Họ cô đơn trong ngôi nhà của mình. Cô đơn giữa
những người thân thuộc. Cô đơn trên chiếc giường của
mình, trong giấc mơ của mình... Cuối cùng, sau một trăm năm
sống trong cô đơn, làng Macondo bị một cơn cuồng phong cuốn
mất khỏi thế giới. Rõ ràng là, về phương diện xã hội,
Márquez muốn viện dẫn một vấn đề có tính quy luật. Đó
là, nếu anh đơn lẻ trong cuộc đấu tranh đối đầu với
thiên nhiên và con người, anh sẽ thất bại. Nếu anh khép
mình, đóng kín, quay lưng lại với thế giới, đi ngược lại
những quy luật vốn có, anh sẽ bị hủy diệt. Tương tự
như thế, đất nước Colombia cùng với lục địa Mỹ La Tinh
nếu đóng cửa, tuyệt giao với thế giới bên ngoài, sẽ vĩnh
viễn bị giam cầm trong lạc hậu, đói nghèo.
- Còn về thông điệp, Márquez
muốn nhắn nhủ một điều giản dị, nhưng sâu đậm tính
nhân văn: Mọi người hãy sống đúng bản chất người, hòa
hợp với các mối quan hệ xã hội của mình, hãy vượt
qua mọi định kiến, thành kiến cá nhân, hãy lấp bằng mọi
hố ngăn cách cá nhân để cá nhân tự hòa đồng với gia
đình, xã hội.
Gabriel Garcia Márquez khởi sự
nghiệp sáng tác rất sớm, khi đang là sinh viên. Bắt đầu
là những bài viết gửi đăng trên tờ El Espectador. Tiếp đến
là hơn một chục truyện ngắn. Năm thứ hai ở đại học,
Márquez quyết định bỏ học để theo nghề báo và viết văn.
Nhờ nghề báo, Márquez được gửi đến Thụy Sĩ, Pháp,
Anh, Venezuela, Cuba, Nga, Mỹ... để viết nên những thiên phóng
sự nổi tiếng và một số tiểu thuyết khi tuổi đời còn
rất trẻ. Sau mấy chục năm có mặt ở tất cả những "điểm
nóng" trên thế giới, năm 1961. Márquez đã viết gần hai chục
cuốn tiểu thuyết, một trăm truyện ngắn và một số kịch
bản phim truyện. Song ông vẫn cho rằng, cuốn sách cuộc đời
ông là cuốn sách về "cái cô đơn", đã miêu tả, mổ
xẻ, huyền ảo hóa
"cái cô đơn" để gửi gắm một
thông điệp cho cuộc sống.
Márquez trở về quê hương,
sử dụng tất cả vốn liếng tích cóp trong gần hai chục
năm để viết cuốn sách để đời, cuốn "Trăm Năm Cô
Đơn". Netflix đang dựng tác phẩm này thành bộ phim
nhiều kỳ trên màn ảnh nhỏ.
"Trăm năm cô đơn" được Márquez
chính thức viết năm 1965, đến năm 1967 thì hoàn thành và
đưa đi xuất bản. Nhưng theo như lời ông nói, "Trăm năm cô
đơn" đã được ông "hoài thai" từ gần hai mươi năm trước.
Đó là quãng thời gian ông làm nghề báo và viết các tiểu
thuyết đầu tay, như: "Ngôi nhà", "Bão lá", "Một trong những
ngày này", " Ngài đại tá chờ thư", "Đôi mắt chó xanh", "Đám
tang bà mẹ vĩ đại"... Ông cho rằng, việc viết các tiểu
thuyết trên là bản thảo lần đầu cho "Trăm năm cô đơn".
Sau khi đoạt giải Nobel Văn
học, năm 1985, Márquez tiếp tục chứng tỏ khả năng bứt
phá bằng "Tình Yêu Thời Thổ Tả", cuốn tiểu thuyết
được ông xây dựng trên nguyên mẫu mối tình của cha mẹ
mình. Truyện này đã được dựng thành phim. Đó là một
mối tình bền vững, dẫu người cha có con ngoài giá thú!
Tác phẩm được đánh giá là "một trong những cuốn tiểu
thuyết hay nhất về tình yêu mà con người có thể viết nên".
Không chỉ là một người có
tài kể chuyện xuất chúng, Marquez chinh phục độc giả nhờ
lối viết hiện thực, lồng trong bối cảnh lịch sử, chính
trị, của đất nước, của châu Mỹ La Tinh, của thời cuộc.
Đồng thời những tác phẩm của ông có thể đọc như một
bài ngụ ngôn, trong đó cái " thực " luôn kèm cả với
những truyền thuyết dân gian, những mê tín dị đoạn, với
những lời nguyền, cộng thêm với một chút gì huyền bí.
Marquez được tôn vinh và làm mê hoặc cả thế giới do ông
là một trong những nhà cầm bút hiếm hoi thành công trong việc
đưa lịch sử, văn hóa, đời sống không chỉ của một dân
tộc mà là của cả châu Mỹ La Tinh đến với độc giả.
Nhưng bên cạnh sự nghiệp
văn chương đồ sộ, Marquez còn là một nhà báo. Chính tác
giả của " Ký Sự Về Một Cái Chết Được Báo Trước
" từng nói: " Làm báo là cái nghề đẹp nhất trần gian".
Từ giữa thập niên 1940 Marquez đã bước vào nghề, cộng
tác tờ El Espectador, rồi điều hành tạp chí Venezuela Grafica
tại Caracas. Ông được phái đi nhiều nước, nhất là Âu
châu
Sau cuộc cách mạng Cuba, Marquez
là một người rất hâm mộ Fidel Castro, ông đã hợp tác với
hãng thông tấn Prensa Latina tại La Habana. Ông sống một thời
gian ở Cuba, được Castro cấp nhà, sau đó, Marquez rời
khỏi Cuba về định cư hẳn tại Mễ Tây Cơ, và cũng tại
đây ông đã đóng cửa với thế giới bên ngoài trong 18 tháng
liền, để hoàn tất tác phẩm để đời " Trăm Năm Cô
Đơn ".
Ông sống dưới chế độ độc
tài Nam Mỹ, nên ông không chỉ là một nhà báo thiên tả,
mà đã đưa ông đến là một nhà báo thiên cộng. Năm 1986,
ông viết một bài báo tố cáo chiến hạm hải quân chở ma
túy, bị chính quyền truy lùng, may trốn được vào tòa đại
sứ Mể Tây. Sau dó ông được tị nạn và qua đời ở đó
sau gần 30 năm.
Ông đến thăm nhiều nước
cộng sản của Liên sô, là bạn của Fidel Castro, có những
bài viết bênh vực Castro và hỗ trợ các hoạt động du kích
cộng sản ở Nam Mỹ. Ông bị mê hoặc và tin tưởng vào chủ
nghĩa xã hội. Ông có đến thăm VN hai lần, lần đầu trong
chiến tranh và lần sau năm 1980. Ông bị chính phủ Mỹ cấm
nhập cảnh, mãi đến thời kỳ Clinton mới bãi bỏ.
Dù Marquez phải sống lưu vong
ở Mễ Tây Cơ, 30 năm cuối cuộc đời vì chống độc
tài tham nhũng, dù ông bị thuyết Cộng Sản mê hoặc,
dù Colombia và cả đại lục Nam Mỹ không nước nào theo
Cộng Sản, nhưng khi ông mất năm 2014, ông vẫn là niềm
hãnh diện của họ.
Tổng thống Colombia Juan Manuel
Santos tuyên bố ba ngày quốc tang. Qua mạng Twitter ông viết
: " Sự ra đi của tác giả Trăm Năm Cô Đơn, người con
vĩ đại nhất mọi thời đại của Colombia để lại "Một
ngàn năm cô đơn và đau buồn cho đất nước ". Marquez
được mệnh danh là " cha đẻ của trường phái hiện thực
huyền ảo ". Tro cốt của Marquez được mang về Cartagena
cất giữ, thành phố nơi ông khởi nghiệp và hoàn thành
những tác phẩm trứ danh. Sau này hình của ông còn được
in trên tiền giấy lưu hành ở Colombia.
Năm 1991, Liên Sô Cộng Sản
tan rã, là một thất vọng nảo nề cho Marquez. Không hiểu
sau đó ông có phản tỉnh không khi nhìn lại còn một vài
nước còn theo chế độ cộng sản như Cuba, Triều Tiên, Việt
Nam, Trung Hoa, độc tài và tham nhũng còn gấp trăm lần so với
chế độ mà ông sống thời ông còn ở Colombia.
*
Chúng tôi không hiểu còn
lần nào để có dịp đến tìm Marquez nữa hay không?