Reims,
thành phố quan trọng nhất vùng Champagne, nơi có Nhà thờ Reims
và hệ thống hầm rượu nổi tiếng của các nhà sản xuất.
Sau khi đi thăm hầm rượu G.H. MUMM, chúng tôi đi thăm nhà thờ
Reims. Và rời Reims chúng tôi ghé Epernay thăm một hầm rượu
thứ hai. Tại cả hai nơi đều được mời uống thử rượu
hãng của họ.
Nhà thờ Đức Bà Reims
( Notre-Dame de Reims) là nhà thờ chính tòa của Tổng giáo
phận Reims, Pháp. Được xây dựng từ thế kỷ 13, đây là
một trong các nhà thờ cổ nhất và cũng là lớn nhất của
Pháp.
 
Nhà thờ Đức Bà ở Reims được
hoàn thành vào năm 1272 trên nền một giáo đường đã có
trước đó từ năm 401. Nhà thờ Reims lại có vai trò quan trọng
trong lịch sử nước Pháp. Do ảnh hưởng quyền lực lớn
của các tổng giám mục thành Reims cũng đưc xem như là nơi
cất giữ "bình nước thánh tôn vương", đây là nơi đăng
quang của 25 vị vua Pháp, vị vua cuối cùng làm lễ đăng quang
tại đây là vua Charles X (năm 1825).
Nhà thờ có kiến trúc cổng
vòm kiểu Gothique, dưới những hàng tượng thánh, có nhiều
tượng bị tàn phá nặng, vết tích của thời cách mạng Pháp.
Với hơn 2,300 tượng thờ và tượng trang trí khắp chung quanh,
Reims là nhà thờ có nhiều tượng nhất ở châu Âu. Đặc
biệt ngay phía trước có một thiên thần cười.
Thiên thần cười (Smiling Angel),
còn được gọi là Nụ cười của Reims, là một tác phẩm
điêu khắc mang tính biểu tượng nằm ở mặt tiền phía tây
của nhà thờ. Thiên thần mỉm cười là tượng duy nhất có
biểu lộ cảm xúc trên khuôn mặt, bởi vì thông thường các
tác phẩm điêu khắc thiên thần thuộc thể loại này không
có nét diễn tả trên khuôn mặt. Thần mỉm cười duy nhất
này là thần được cho là mang lại hy vọng, niềm tin và sức
mạnh để phục hồi nụ cười cho mọi người.
 
Một chút về tượng thần
cười.
Trong chiến tranh thế giới
thứ nhất (1914), nhà thờ bị thiệt hại nặng khi hàng trăm
quả đạn pháo nhắm trúng nhà thờ. Mái gỗ sồi bốc cháy,
kim loại bị đun nóng chảy xuống sàn nhà, v.v...
Đầu của thần có nụ cười
rơi xuống từ trên cao xuống sàn vỡ thành từng mảnh. Những
mảnh vụn được thu nhặt và đuợc cất giữ trong hầm mồ
của nhà thờ. Trong những năm kế tiếp 1915-16, những mảnh
tượng vỡ vụn vẫn còn được tiếp tục thu thập. Tất
cả đều được trữ trong hầm nhà thờ.
Sau đó vào tháng 3 năm 1918,
khi quân Đức mở một cuộc tiến công lớn vào thành phố
Rheims, những đồ vật tàng trữ trong nhà thờ đổ nát, bao
gồm cả các mảnh vỡ của bức tượng, đã được vận chuyển
ra khỏi thành phố, và bị phân tán đi nhiều nơi khác nhau
ở Paris.
Sau khi chiến tranh kết thúc,
những mảnh vụn của các bức tượng cuối cùng đã được
thu hồi lại trở về nhà thờ Reims. Sau nhiều ý kiến trái
ngược (có nên phục hồi tượng không hay là cứ để nguyên
dấu vết tàn phá chứng minh cho sự hủy diệt của chiến
tranh), thì tượng đã được phục hồi.
Những nỗ lực xây dựng lại
thiên thần bị đổ vỡ đã trở thành biểu tượng cho cuộc
đấu tranh phục hồi của chính nước Pháp. Sự tìm kiếm
thêm các mảnh vụn vỡ lại tiếp tục. Và năm 1921việc rắp
láp bắt đầu thực hiện và dần dần đến năm 1926, các
mảnh vỡ đã được gắn lại cùng sự phụ trợ hỗn hợp
đá và xi măng, và sau cùng với các tượng khác, tượng thần
cười đã có đuợc hình dạng như ngày nay.
Vào trong nhà thờ, chúng
ta thấy có một đặc điểm khác của Nhà thờ là Vitrail
du Champagne, những cửa sổ kính màu lịch sử Champagne.
Cửa sổ này bao gồm ba khung cao mười mét được nối với
ba vòng kính tròn màu phía trên đường kính 2.4 mét. Trong ba
khung cửa sổ Champagne này, bạn có thể xem tất cả các câu
chuyện về lịch sử sản xuất Champagne; những người thợ
trồng nho làm việc trong vườn nho, thu hoạch nho và cuối cùng
là ép nho và làm rượu trong các hầm chứa, công cụ trồng
nho và sản xuất rượu vang và quang cảnh của 44 làng vùng
Champagne. Và còn có cả nhưng nhân vật quan hệ đến rượu
nho Champagne như Dom Pérignon (ông thầy hầm rượu của Hautvillers),
John the Baptist (vị thánh bảo trợ của công nhân hầm rượu)
và St Vincent (vị thánh của những người trồng nho).
Cùng với ảnh hưởng trong
thành phố, Ki tô giáo cũng sở hữu những lãnh địa lớn
trong đó có nhiều ruộng nho rất tốt, làm ra những thứ rượu
rất ngon dùng trong các thánh lễ. Và vào năm 1114, một vị
giám mục tại đây đã soạn thảo một văn kiện quy hoạch
các ruộng nho thuộc quyền các tu viện và nhà thờ trong vùng
Champagne. Đây chính là thư tịch cổ xưa nhất (chứ không
phải đạo luật 1927) khai sinh vùng nho Champagne.
Nhưng dấu ấn của Thiên Chúa
giáo đối với rượu champagne không chỉ có vậy. Một số
người tin rằng tác giả thứ rượu vang vàng sủi bọt mà
ngày nay không thể thiếu trong các dịp tiệc tùng là một
thầy tu dòng Benedicte tên là Dom Pérignon (1638-1715), nhưng thật
ra không phải thế. Trước thời Dom Pérignon, người ta vẫn
làm ra rượu champagne bằng cách này hay cách khác, nhưng Dom
Pérignon được xem là người đã cải thiện quy trình làm
rượu. Và phải đến đầu thế kỷ 19 phương thức làm rượu
methode champenoise mới được nhà Veuve Cliquot hoàn thiện.
Dom Pérignon cũng là người
phát minh ra kiểu vỏ chai dày dùng đựng rượu champagne và
chiếc nút bần (liège) nổi tiếng vẫn dùng đến ngày nay.
Rượu Champagne nổi tiếng Dom
Pérignon, một loại vang cuvée của hãng Moet & Chandon mang
tên ông. Ông cũng là người đồng thời với vua Louis XIV (1638-1715).
Đã nhiều thế kỷ trôi qua
nhưng những ô kính vẽ những điển tích trong Kinh thánh vẫn
sáng màu rực rỡ. Không khí trong thánh đường thật tĩnh
lặng, khách tham quan trong sự im lặng tuyệt đối, như không
muốn phá hỏng sự trang nghiêm nơi 25 vị vua Pháp đã từng
quỳ chịu lễ tôn vương.
Một chút lịch sử. Nhà
thờ Reims, nhà thờ Paris và nhà thờ Chartres, là những nhà
thờ nổi tiếng nhất thế giới. Tuy nhiên, nhà thờ Đức
Bà Reims nổi bật về tỷ lệ tuyệt vời và vẻ đẹp lộng
lẫy của nó; và đó là lý do mà Vua Louis IX, người trị vì
nước Pháp , ra lệnh rằng tất cả các vị vua tương lai của
Pháp sẽ phải được xức dầu thánh tại Nhà thờ Đức Bà.
Và trong hơn 500 năm, họ đã làm đúng như thế.
Reims là một thành phố lớn
có từ thời La Mã, được xem như là lớn thứ ba trong đế
chế, trong thời đại mà thành phố Paris và Chartres chỉ là
những thị trấn nhỏ. Quan trọng hơn, nó là một trung tâm
thương mại giữa người La Mã và các bộ lạc người Gaul
khác nhau, và bất kỳ ai khác trên thế giới muốn thương
lượng với hai nhóm này. Vì khách du lịch từ xa hàng ngàn
dặm đến nên thời đó có rất nhiều nhà tắm La Mã được
dựng để cung cấp dịch vụ cho họ.
Khi thời La Mã suy thoái, thì
Cơ đốc giáo đến dần dần và một nhà thờ đã được
dựng lên tại địa điểm có các nhà tắm, có lẽ vào đầu
thế kỷ thứ năm. Vào cuối thế kỷ đó, Clovis, vị vua đầu
tiên của Pháp, người đã thống nhất các bộ lạc Pháp khác
thành một tổng hợp gọi là Pháp, Clovis đã thay đổi nhóm
lãnh đạo các bộ lạc thành một vua duy nhất, và vương quyền
sẽ được chuyển tiếp thừa tự chức vua. Clovis đã chấp
nhận đạo Công giáo La Mã từ năm 496 , và vào ngày lễ Giáng
sinh năm 508, ông được Thánh Rémi, giám mục thành phố, làm
lễ rửa tội ở trung tâm nhà thờ nhỏ của Reims. Theo sau
Clovis là cả ngàn tín đồ theo ông làm lễ rửa tội.
Chắc chắn không ai bước vào
nhà thờ mà không thấy một viên đá trắng hình vuông nhỏ,
được đặt ngay lối dẫn vào chính điện mang hàng chữ:
Và từ đó, Reims đã chuyển
đổi từ một trung tâm thương mại của khu vực thành một
biểu tượng quyền lực cho tất cả người dân nước Pháp.
Nhà thờ nhỏ phát triển thành một nhà thờ lớn hơn, và
khi nó bị thiêu rụi vào năm 1211, công việc xây dựng Nhà
thờ Đức Bà mới được bắt đầu ngay lập tức.
Trải qua chiến tranh Thế giới
đệ nhất và nhiều tàn phá, vào cuối năm 1918, nhà thờ chỉ
còn lại những bức tường bị đập phá, những chiếc đà
dựng vách nhà thờ hoang tàn đổ nát.
Nhưng rồi thành phố Reims đã
được xây dựng lại, và nhà thờ Reims cũng vậy, với sự
giúp đỡ một phần từ gia đình Rockefeller. Một trong những
dự án đầu tiên là phục chế Smiling Angel; và rồi chúng
ta nay thấy Reims đã khôi phục lại nụ cười và sức mạnh
của nó. Nhà thờ mở cửa trở lại cho công chúng vào năm
1935 cho đến hiện tại.
 
Một nguồn tài trợ. Vào
ngày 3 tháng 5 năm 1924, John D. Rockefeller, Jr., đã viết thư
cho Thủ tướng Pháp Raymond Poincaré để đề nghị chính thức
hỗ trợ tài chính cho việc trùng tu một số di tích quốc
gia của Pháp. Bản thân món quà đã tài trợ cho việc sửa
chữa tại ba địa điểm riêng biệt: Nhà thờ Reims, Cung điện
Versailles và Cung điện Fontainebleau. Nhưng Rockefeller và các
nhân viên của ông luôn nhấn mạnh rằng điều quan trọng
nhất trong ba công trình là việc trùng tu Nhà thờ Reims, một
biểu tượng quốc gia được tôn kính của người dân Pháp.
Rất khó để chỉ ra một lý
do duy nhất khiến John D. Rockefeller, Jr. quyết định giúp khôi
phục lại các di tích văn hóa Pháp. Chắc chắn món quà phù
hợp với truyền thống gia đình. Ngay cả trước khi kiếm
được hàng triệu USD vào cuối thế kỷ 19, John D. Rockefeller,
Sr. đã dành một phần trăm đáng kể thu nhập của mình cho
các hoạt động từ thiện. Được thành lập vào năm 1913,
Rockefeller Foundation là cơ chế chính để thực hiện hoạt
động từ thiện có tổ chức của Rockefeller. Nó hoạt động
trên toàn thế giới để hỗ trợ các sáng kiến giáo
dục, y tế và sức khỏe cộng đồng.
Các báo cáo về sự đóng góp
đã bao quát góc độ biểu tượng này, nhấn mạnh vào Nhà
thờ. Một bài báo New York Evening World vào ngày 30 tháng 5 năm
1924 có tiêu đề, "Rockefeller Jr. tặng 1,000,000 đô la, giúp
khôi phục nhà thờ Reims." Tiếp theo là một phụ đề nhỏ
hơn, thông báo "$ 750,000 sẽ được sử dụng để sửa chữa
các cung điện tại Versailles và Fontainebleau ($250,000 dành cho
nhà thờ Reims).
Reims cũng có một Công trường
Hoàng gia, hiên nay vẫn còn thấy tượng đồng của Louis
XV với tư cách là hoàng đế La Mã, đứng trên bệ tròn được
bao quanh bởi hai nhóm điêu khắc bằng đồng:
Luật chi phối Sức mạnh. Người
phụ nữ dẫn đầu một con sư tử.
Thương mại. Người đàn ông
đang ngồi trên một số kiện hàng hóa.
Trên đế vua Louis XV đứng
còn có quốc huy bằng đồng của Pháp và của thành phố Reims.
 
Thêm một chút về rượu champagne.
Kèm theo dưới đây là nhãn
hiệu một cổ chai rượu Champagne của Henri Abelé với hình
Thiên thần mỉm cười. Maison Abelé được thành lập vào năm
1757 đã có những đóng góp lớn vào việc phục hồi Nhà thờ
Đức Bà Reims. Hãng rượu này cũng có rượu cuvée cao cấp
mang tên Sourire de Reims Brut và Sourire de Reims Rosé.
 
Lẽ dĩ nhiên phải kể đến champagne
Veuve Clicquot CVP.
Veuve Clicquot Ponsardin là một
nhà sản xuất rượu Champagne của Pháp có trụ sở tại Reims,
chuyên về các sản phẩm cao cấp. Nó được thành lập vào
năm 1772 bởi Philippe Clicquot và là một trong những nhà rượu
sâm banh lớn nhất trên thế giới. Madame Clicquot được ghi
nhận với những bước đột phá lớn, tạo ra rượu Champagne
cổ điển đầu tiên được biết đến vào năm 1810, và phát
minh ra quy trình để làm rượu champagne vào năm 1816 (méhode
champenoise). Năm 1818, bà đã phát minh ra loại rượu champagne
pha trộn màu hồng đầu tiên được biết đến bằng cách
pha trộn các loại rượu champagne trắng và đỏ. Quá trình
này vẫn được sử dụng cho đến ngày nay bởi phần lớn
các nhà sản xuất rượu champagne.
Madame Clicquot đã đóng một
vai trò quan trọng trong việc thiết lập champagne như một thức
uống ưa thích của xã hội thượng lưu và giới quý tộc
trên khắp châu Âu.
Chai rượu mang nhãn màu vàng
đặc biệt của nó từ cuối thế kỷ 19.
Công ty Louis Vuitton đã mua nhà
rượu này vào năm 1986, nay là một phần của tập đoàn LVMH
(Moët Hennessy Louis Vuitton) được thành lập vào năm 1987
và tiếp tục mở rộng ra toàn thế giới.
Chai Veuve Clicquot có từ loại
chai "piccolo" (0.188
L)
đến "balthazar" (12 L).
Một chút lịch sử về champagne
Veuve Clicquot
Vào năm 1772, tại làng vùng
Champagne có một thương gia chủ nhà dệt, chủ ngân hàng và
chủ vườn nho mang tên Philippe Clicquot mở một công ty làm
rượu. Nhờ có tài ông đã nhanh chóng phát triển rượu Champagne
của vườn nho nhà ông lên một số lượng từ 4,000 đến
6,000 một năm nếu trúng mùa nho tốt.
Cùng thời gian đó, một thương
gia khác mang tên Nicolas Ponsardin cũng thành công trong ngành dệt.
Hai ông này thông gia với nhau, sắp xếp cho con trai ông Clicquot
(Francois) lấy con gái ông Ponsardin (Barbe-Nicole).
François Clicquot và Barbe-Nicole
Ponsardin đã kết hôn vào ngày 10 tháng 6 năm 1798 khi Barbe-Nicole.
Và một công ty mang tên Clicquot-Muiron et Fils ra đời với số
chai sản xuất hàng năm từ hàng 6-7ngàn chai lên tới hàng
5-6 chục ngàn chai vào đầu thế kỷ 19 (1804). Do sự thành
công của công ty rượu, ông Philippe đã ngưng hãng dệt để
điều động nhà rượu.
François Clicquot bắt đầu toàn
quyền điều động nhà rượu từ năm 1801 sau khi ông Philippe
về hưu. Với sự hợp tác của Louis Bohne một nhân viên tận
tụy với nhà rượu, thường hay đi công vụ nhiều quốc gia
khác ở Châu Âu, hãng rượu càng ngày càng bành trướng mạnh.
Francois đột ngột qua đời năm mới 30 tuổi (1805) qua một
cơn bạo bệnh.
Bà vợ góa trẻ tuổi Barbe-Nicole,
27 tuổi, với sự ủng hộ của bố chồng Philippe đã quyết
định tiếp tục quản gia việc kinh doanh của chồng, và sau
đó trở thành một trong những nữ doanh nhân đầu tiên điều
hành một doanh nghiệp quốc tế trong một thế giới do đàn
ông thống trị.
Barbe-Nicole Ponsardin sinh năm
1777, vài năm trước Cách mạng Pháp. Cha cô, Nam tước Nicolas
Ponsardin, một nhà sản xuất dệt may thành công, là người
đã tham gia vào cả kinh doanh và chính trị.Trước là một
người theo chủ nghĩa bảo hoàng vua Louis XVI, nhưng khi cách
mạng Pháp đến vào năm 1789, ông Ponsardin đã đổi chiều
ủng hộ cách mạng. Nhờ thế mà gia đình của Barbe-Nicole
đã thoát khỏi cuộc Cách mạng không hề bị tổn hại.
Khi Barbe-Nicole kết hôn với
François Clicquot, cô mới 21 tuổi. Khi chồng qua đời vào tháng
10 năm 1805, bà 27 tuổi . Hai vợ chồng chỉ có một con gái
duy nhất tên Clémentine lên sáu tuổi (sanh năm 1799) .
Vào đầu thế kỷ 19, Bộ luật
Napoléon đã phủ nhận các quyền dân sự và chính trị của
phụ nữ, cấm họ làm việc, bỏ phiếu, kiếm tiền hoặc
vào các trường học và đại học mà không có sự đồng
ý của chồng hoặc cha của họ. Vào thời điểm đó, các
góa phụ là phụ nữ duy nhất trong xã hội Pháp được tự
do và được phép kinh doanh riêng. Và từ năm 1810 hãng rượu
được đổi tên thành Veuve Clicquot (Bà góa Clicquot).
Barbe-Nicole đã tham gia học
nghề làm rượu với nhà sản xuất rượu Alexandre Fourneaux,
và đã cứu vãn đuợc công việc kinh doanh rượu vang của
gia đình và phát triển nhà rượu càng ngày càng lớn hơn.
Barbe-Nicole đã xuất khẩu phần
lớn rượu sâm banh của mình ra khỏi Pháp. Vì chiến tranh
Napoleon, nhà rượu phải đối mặt với sự phong tỏa của
hải quân nên phải ngưng gửi rượu của mình ra nước ngoài
nhất là Sa hoàng Nga cấm nhập cảng hàng từ Pháp.
Trong khi các cuộc phong tỏa
của hải quân trong chiến tranh làm tê liệt hoạt động vận
chuyển thương mại, đối mặt với tình trạng phá sản, Barbe-Nicole
đã chơi một canh bạc kinh doanh: bà và Louis Bohne đã bí mật
gửi lén rượu champagne của mình đến Amsterdam trữ kho tại
đó chờ ngày gửi sang Nga khi hoàn cảnh thuận tiện.
Khi chế độ quân chủ của
Pháp được khôi phục, Madame Clicquot và Louis Bohne đã thực
hiện kế hoạch mà họ đã chuẩn bị trong 5 năm. Năm 1814,
khi các cuộc phong tỏa không còn nữa, công ty đã thuê một
tàu chở rượu đi Nga, để giao rượu Veuve Clicquot đến thị
trường Nga. Hơn 20,000 chai rượu được bán tại Nga sau hai
chuyến giao hàng. Khi rượu sâm banh đến St.Petersburg, Đại
công tước Michael Pavlovich của Nga, anh trai của Sa hoàng Alexander
I, tuyên bố rằng rượu sâm banh Veuve Clicquot-Ponsardin sẽ là
loại duy nhất mà ông ta sẽ uống. Lời tuyên bố của ông
lan truyền khắp triều đình Nga.
Năm 1814 là một bước ngoặt
trong lịch sử của công ty Veuve Clicquot. Madame Clicquot đã khôi
phục công việc kinh doanh của mình bắt đầu từ sự thành
công của liên doanh ở Nga đã khiến tên tuổi Veuve Clicquot
trở nên nổi tiếng ngay năm 1814. Trong những năm sau đó, Nga
tiếp tục mua rượu vang Veuve Clicquot. Doanh số bán hàng tăng
vọt từ vài chục ngàn chai vào năm 1816, đã tăng lên vài
trăm ngàn chai vào năm 1821. Trong vòng hai năm (1814-1816), góa
phụ Clicquot đã trở nên nổi tiếng và đứng đầu một doanh
nghiệp thương mại nổi tiếng quốc tế.
Dưới sự hướng dẫn của
Madame Clicquot, công ty tập trung hoàn toàn vào công việc sản
xuất rượu và cuối cùng đã đạt được thành công lớn.
Năm 1841, khi Edouard Werlé người
giữ nhiệm vụ mở rộng thị trường sang những nước khác
ở Âu châu, chính thức trở thành người đứng đầu công
ty, số chai hàng năm không bao giờ giảm xuống dưới 300,000
chai. Edouard và con trai của ông là Alfred đã điều hành công
việc kinh doanh trong những năm tiếp theo để phát triển lớn
hơn nữa: họ mua lại những vườn nho mới và vào năm 1877
bắt đầu sử dụng nhãn màu vàng cho rượu vang, một màu
sắc khác thường đối với rượu sâm banh vào thời điểm
đó. Họ đã đăng ký nhãn hiệu dưới nhãn hiệu "Veuve Clicquot
Ponsardin" Yellow Label.
Trong khi công ty đang theo đuổi
việc mở rộng, Madame Clicquot qua đời tại Château de Boursault
vào ngày 29 tháng 7 năm 1866, thọ 89 tuổi.
Những Chai Champagne bị đắm
tàu
Năm 1987, một cuộc thám hiểm,
được cấp phép bởi Bộ Ngoại giao Michigan và Bộ Tài nguyên
Thiên nhiên Michigan và do nhà khảo cổ học dưới nước E.
Lee Spence đứng đầu, đã thu hồi một số trường hợp rượu
Champagne Veuve Clicquot (Yellow Label, Brut) ngày 9 tháng 11 năm 1913
từ chiếc tàu hơi nước Canada Regina bị đắm ở Hồ Huron,
ngoài khơi Cảng Sanilac, Michigan. Ông Spence sau đó mô tả rượu
Champagne vẫn còn sủi tăm là "có màu khá sẫm nhưng có
hương vị tuyệt vời." Địa điểm đắm tàu nằm
ở độ sâu khoảng 83 feet nước ở vĩ độ 43 ° 20,24 ′ Bắc,
kinh độ 82 ° 26,76 ′ Tây. Nhiệt độ nước tại khu vực
xác tàu nằm trong khoảng từ 1-18 ° C (35 -65 ° F).
Vào tháng 7 năm 2010, một nhóm
thợ lặn Phần Lan đã tìm thấy 168 chai sâm banh bên dưới
biển Baltic ngoài khơi quần đảo Åland. Các chai đã được
gửi trở lại Pháp để phân tích. 99 chai trong số đó được
xác định là Juglar, 46 chai là Veuve Clicquot, và ít nhất 4 là
Heidsieck.
Khi rượu được nếm thử
vào năm 2015, một số trong số chúng vẫn có thể uống được,
được bảo quản tốt nhờ điều kiện lạnh và tối ở độ
sâu.
Phân tích hóa học cho thấy
lượng đường (150 g / L) cao hơn nhiều so với rượu sâm banh
hiện đại (nhiều hơn hầu hết các loại rượu Sauternes),
so với rượu sâm banh ngày nay thường là từ 6 đến 10g mỗi
lít. Hàm lượng đường cao này là đặc trưng cho thị hiếu
của người dân vào thời điểm đó, đặc biệt là thị trường
Nga được biết đến với sở thích rượu ngọt hơn.
Nó cũng có hàm lượng muối,
sắt, chì, đồng và arsenic cao hơn nhiều so với các loại
champagne hiện đại. Người ta tin rằng arsenic và đồng có
nguồn gốc từ thuốc trừ sâu cổ xưa (hỗn hợp Bordeaux)
được bón cho nho. Sắt có thể đến từ đinh dùng trong thùng
rượu, và chì rỉ ra từ các phụ kiện van bằng đồng của
thiết bị sản xuất rượu. Các nhà sản xuất rượu sâm
banh hiện đại bắt đầu với rượu từ thùng thép không
dỉ, mang lại hàm lượng sắt và chì thấp hơn.
Vào ngày 17 tháng 11 năm 2010,
chính quyền địa phương của Quần đảo Åland thông báo rằng
hầu hết các chai sẽ được bán đấu giá. Một chai rượu
Veuve Clicquot gần 200 năm tuổi đã phá kỷ lục về loại rượu
sâm banh đắt nhất từng được bán. Năm 2011, một người
đấu thầu đã trả 30,000 euros cho một chai trong số chai được
tìm thấy ở Biển Baltic.
Kết quả là vào năm 2014, nhà
rượu đã nhấn chìm 300 chai rượu champagne 750 ml và 50 chai
champagne magnum 1.5ml tại đúng vị trí xác tàu chìm để nghiên
cứu xem liệu nó có thay đổi khác với trên cạn hay không.
Nghiên cứu này sẽ đuợc tường trình sau 40 năm nữa khi được
vớt lên và sẽ được so sánh với một bộ champagne khác
có cùng tuổi dưới hầm trong lòng đất ở cùng độ sâu.
Chai rượi VCP cũ nhất
Vào tháng 7 năm 2008, một chai
Veuve Clicquot chưa mở đã được phát hiện bên trong tủ gỗ
ở Lâu đài Torosay, Đảo Mull, Scotland. Chai đề năm 1893 ở
trong tình trạng tốt, được giữ trong bóng tối. Hiện nó
được trưng bày tại trung tâm du khách Veuve Clicquot Ponsardin
ở Reims và được coi là vô giá. Đây là chai cổ nhất mang
nhãn màu vàng được lưu giữ trong bộ sưu tập của nhà Veuve
Clicquot.
Năm 2001, bà Cecile Bonnefond trở
thành nữ chủ tịch đầu tiên của Veuve Clicquot kể từ khi
bà góa Clicquot điều hành công ty.
Epernay
Thăm Reims, ăn trưa tại Reims
rồi chúng tôi ghé Epernay thăm nhà hầm rượu Georges Cartier.
Lời kết
Thành phố Reims với Nhà thờ
Đức Bà Reims với hơn 2,3,00 tượng, với thần cười, và
với những hãng rượu nổi tiếng là một địa điểm không
thể không thăm viếng được cho những ai thích du lịch.
Rượu Chamgne thì được toàn
thế giới biết đến.
Rượu Champagne được dùng
để khai trương nhiều biến cố, và chắc chắn chúng ta nhiều
người đã thấy có cảnh một nhân vật quan trọng khánh thành
một thương/du thuyền mới với một chai rượu Champagne đu
mạnh đập bể vỏ chai vào cạnh thuyền tàu.
Rượu Champagne là một thức
uống không thể thiếu được trong những buổi họp mặt để
mừng cho dù bất cứ một dịp nào từ phạm vi nhỏ hẹp gia
đình đến những buổi tiệc lớn cả trăm ngàn người, và
nhất là đám cưới.
Xin dùng một ly rượu champagne
mừng thành phố và các nhà/hầm chế tạo rượu champagne tại
Reims.
Sóng
Việt Đàm Giang.
December 06,
2020.
https://en.wikipedia.org/wiki/Reims
https://en.wikipedia.org/wiki/Reims_Cathedral
https://en.wikipedia.org/wiki/Traditional_method
https://statues.vanderkrogt.net/object.php?webpage=ST&record=frca016 |