Lời nói đầu:Đây
chỉ là bài viết cho vui theo thường lệ. Những bạn có tên
trong lá thư này xin đừng để tâm nhé. Chúng ta mong luôn sống
vui, mạnh và với tấm lòng nhân ái, khoáng đạt như thuở
còn cắp sách đến trường.
***
Tôi
xin nhắc lại vài kỷ niệm với các bạn tại trường Quốc
Gia Kỹ Sư Công Nghệ mà tôi còn nhớ được. Trường chúng
ta không còn ở bên ta nữa, nhưng những kỷ niệm, những tình
cảm thân thương dành cho trường và cho nhau, đã từ bao năm
nay, dường như không thể phai mờ trong trái tim của mỗi chúng
ta. Nhắc lại những kỷ niệm đó, không phải để nuối tiếc
những gì đã qua hay đã mất, mà chính là để
nuôi dưỡng những cái cần được và cần phải
giữ gìn trân trọng.
Tôi xin bắt đầu với những
kỷ niệm ấy nhé.
Làm báo trường
Sau bao năm xa cách, tôi lại
được đọc mấy dòng thư của anh M.X. Thành viết cho tôi
và nhắc về vài kỷ niệm tại trường, thật cảm động
và vui làm sao. Tôi với anh Thành quả thật không xa lạ gì
nhau vì trong thời gian "luyện kiếm" ở trường Công Nghệ.
Ngoài việc học, chúng tôi còn cùng chia sẻ với nhau trong
công việc báo chí cho sinh viên trường với tư cách
tự biên tự diễn vào những năm 1966-1967, những năm có quá
nhiều biến động chính trị trong nước. Anh Thành thì năng
động lắm lại tha thiết với "nghề" làm báo nên anh thường
quên cả ăn trưa để chăm lo cho tờ báo ấy. Nếu nói chỉ
có anh Thành và tôi làm tờ báo thì không đúng mà đó là
sự đóng góp vun trồng của toàn thể anh em lúc đó. Cũng
vì sự quý trọng nhau nên anh Thành và tôi cứ nhường nhau
chữ Trưởng ban báo chí, để cuối cùng khi tờ báo
được "in" ra, hàng Trưởng ban báo chí trong danh sách Ban
đại diện vẫn còn để trống, không ai chịu đứng tên
cả.
Nhắc đến kỷ niệm làm báo,
cái khó khăn lúc đó là vấn đề tài chính. Lấy đâu
ra tiền để ra báo dù chỉ là in "Roneo". Bài vở đóng góp
thì nhiều mà tiền thì ít nên việc lựa chọn bài, ngoài
cái hay của bài còn phải lưu tâm đến chiều dài của bài
viết nữa, cần phải "nắn túi" xem chịu đựng nổi nó hay
không. Tôi nhớ có một năm phải lo cho tờ báo Tết thì phải,
tờ báo mang tên "XANH" với tờ bìa là hình ảnh con bồ câu
trắng tượng trưng cho hòa bình. Chúng ta không có có tiền
nên đành phải "gà què ăn quẩn cối xay", tôi vác "bị gậy"
gõ cửa các vị giáo sư nhà để ăn xin. Giáo sư đầu tiên
tôi gõ cửa là thầy Giám Đốc Bùi Tiến Rũng, thầy vui vẻ
ủng hộ 100 đồng. Tôi lần lượt vác "gậy" đi gõ các thầy
khác và tôi không còn nhớ rõ thầy nào ủng hộ và ủng hộ
bao nhiêu. Cũng may, thu vén, thêm thắt số tiền ủng hộ của
các thầy vào, chúng ta cũng đủ sức để lo toan cho tờ báo
ấy.
Chuyện học tập
Thấy anh Thành nhắc tới vài
kỷ niệm trong trong Xưởng Cơ Khí của trường, tôi xin đóng
góp thêm vài kỷ niệm của mình nơi cái xưởng ấy.
Thú thật khi đi học, tôi thuộc
loại "văn thì dốt mà vũ thì nhát (nhát gan)". Học dũa thì
không dám dũa vì sợ nó "bom-bê" nên cứ kiên nhẫn đứng
mài cục sắt trên cây dũa "ba tạt" (dũa thô). Mài toát mồ
hôi mà khi đo ra chẳng thấy kích thước nó suy xuyển chút
nào. Tôi phải nhờ tới thằng bạn học cùng lớp thuộc loại
"nhà nghề" như Nguyễn Hoàng Thu ra tay cứu giúp.
Ở Xưởng Rèn, tôi còn nhớ
rõ lắm, có cái "búa máy" thật to hiệu "Titan". Cái búa ấy
to lớn kềnh càng làm tôi run sợ mỗi khi phải sử dụng nó.
Có một lần, trong phần thực tập, tôi phải làm cái "kìm
rèn". Phần đầu và phần thân kìm, tôi ì ạch rèn bằng búa
tay mãi cũng xong, còn cái đuôi kìm thì phải dùng tới cái
búa máy mới đủ sức kéo dài cái đuôi nó ra. Nhìn cái búa
máy khổng lồ ấy, tôi ngại làm sao. Trông mấy thằng bạn
sử dụng nó, tôi thấy dễ quá mà. Cứ nung thỏi sắt
nóng đỏ lên cho mềm, đặt nó lên mặt đe, lấy chân
nhấn lên bàn đạp của máy xuống mạnh hay nhẹ tùy
theo mình muốn búa đập xuống đe mạnh hay nhẹ. Trong
khi chân nhấn xuống bàn đạp, để hòa nhịp với chân, hai
tay dùng kìm lăn tròn đều thỏi sắt để búa đập xuống
phần đã được nung đỏ. Và như thế, chỉ một loáng (một
thoáng) thôi, cái đuôi kìm sẽ được thành hình. Trông chúng
làm thì thấy dễ ợt mà sao tôi vẫn sợ. Năm lần bẩy lượt
tôi cứ nung thỏi sắt cho đỏ, hăm hở chạy tới cái búa
máy (phải chạy vội vì sợ cục sắt nguội), đứng ngập
ngừng suy nghĩ, chờ đợi cái giờ phút quyết định trọng
đại là đặt thỏi sắt đó lên mặt đe và nhấn bàn đạp
cho búa đập xuống. Tôi thuộc loại Quách Tĩnh trong truyện
Anh Hùng Xạ Điêu của Kim Dung, nghĩa là đầu óc chậm chạp
ngập ngừng nên chưa quyết định xong thì thỏi sắt đã nguội
mất rồi. Tôi lại hăm hở trở lại lò nung đỏ thỏi sắt
trở lại. Cứ như thế và như thế, tôi rất bận bịu, tất
bật trên con đường từ lò tới búa máy rồi lại từ búa
máy tới lò. Thầy phụ tá ở Xưởng Rèn như hiểu được
tâm can của thằng học trò nhát gan này. Thầy thương hại
khi đứng nhìn thấy tôi cứ chăm chỉ và hăm hở chạy tới
chạy lui. Thầy bèn ra tay nghĩa hiệp "nắn" dùm tôi cái đuôi
kìm tròn trịa, xinh xinh bằng cái búa máy ấy. Thực ra thì
thầy cũng hơi ác với tôi một tý. Tiện tay, còn một tý
nữa thì xong, thầy lại bỏ lửng đưa tôi làm tiếp cái phần
cỏn con còn lại. Tôi cũng để đuôi kìm lên đe, chân đạp
xuống bàn đạp của búa. Búa đập xuống "chát chát" mấy
tiếng inh tai. Tôi nhận ra ngay, hỡi ôi, cái đuôi kìm tròn
trịa, xinh xắn trước đây nay đã trở thành dẹp lép. Tôi
hốt hoảng rút vội đuôi kìm ra ngay khỏi mặt đe. Tiếng
búa vẫn đập xuống đe dữ dội. Âm thanh của búa nay không
còn "chát chát" nữa mà là những tiếng "choang choang" đổ
vỡ. Ông thầy chỉ còn biết hét lên trong hốt hoảng "Buông
chân ra! Buông chân ra! ..." Tôi vội vàng rút chân ra khỏi bàn
đạp. Chiếc búa ngập ngừng lên xuống rồi ngưng. Không gian
lúc đó trở nên yên lặng nặng nề, yên lặng một cách não
nề, ngơ ngác. Ngơ ngác như tôi đang nhìn tiếc rẻ cái đuôi
kìm đã trở nên dẹp lép cong queo, bỏ thì thương mà vương
thì tội. Tôi chỉ còn biết đứng nhìn nét mặt chán chường
thất vọng đến thảm não của ông thầy cùng với những
nét mặt đáng ghét của những thằng bạn cùng lớp đang đứng
bịt miệng cười, có thằng cười hô hố. Và cũng từ ngày
ấy, cái ngày sao "búa tạ" chiếu đúng đỉnh đầu, tôi từ
giã cái búa máy như giã từ vũ khí vậy.
Nay tôi xin nói về cái Xưởng
Ô Tô. Sinh viên gọi nó là xưởng cho xôm tụ, cho oai, chứ
thật ra "xưởng" ấy chỉ có mấy cái "đầu máy" ô tô cũ
rích để chưng, chỉ để chưng thôi. Một cái máy ô tô duy
nhất loại "bốn xi lanh, bốn thì" tý hon, chỉ bé bằng thân
người tôi lúc ấy, và cũ mèm để sinh viên thực tập tháo
ráp, tháo ráp thả cửa, tháo ráp vô tội vạ, tháo ráp không
hề thương tiếc. Và tất nhiên là thầy Porteil (Trưởng Xưởng
Ô Tô) không cần phải lưu tâm tới việc sinh viên "đánh vật"
với cái máy này mà sợ họ làm hư hỏng. Cái máy không thể
hư thêm hoặc cũ thêm được nữa vì nó là máy phế thải.
Sinh viên chia nhau ra mà "đánh vật" với máy, cứ hai người
một lượt cho được công bằng. Tôi còn nhớ rõ, toán tôi
gồm tôi và N.V. Bé, tên hắn là Bé nhưng thân xác lại to,
sức lực lại dồi dào nên tôi cho hắn làm thợ chính, tôi
làm thợ phụ, thứ thợ phụ chỉ để sai vặt mà thôi. Hắn
bảo tôi xiết ốc là tôi xiết ốc, bảo mở ốc là tôi mở
ốc. Nhiệm vụ quan trọng của tôi là chỉ có thế, không
thêm cũng không bớt. Sau mấy tiếng đồng hồ, hai kỹ sư
tương lai "đánh vật" với cái máy, tháo hết các cơ phận
ra rồi lại ráp chúng vào. Hai thằng hì hục thế nào mà khi
ráp xong cái máy "tý hon" ấy lại như cũ thì còn dư đúng
một lon đầy vừa ốc lẫn bù loong. Tôi và Bé
nhìn nhau như đồng ý dấu lon "của nợ" ấy vào gầm tủ.
Thầy Porteil trông thấy cười :"Kỹ sư giỏi là biết làm
kinh tế giỏi, sau khi ráp máy xong tiết kiệm được một lon
ốc lẫn bù loong". Cái cười của thầy thật nhân hòa nhưng
cũng đủ làm hai thằng chúng tôi đỏ mặt. Hai thằng tôi
còn nhớ mãi câu nói này cho tới bây giờ. Thỉnh thoảng gặp
lại nhau ở San Jose vào những dịp tất niên thường vẫn
nhắc lại để cười. Ai bảo Tây không biết nói "móc lò".
Nay, tôi lại xin nhắc về Xưởng
Đúc. Thầy Granotier dạy môn "Đúc kim loại" và cũng là trưởng
Xưởng Đúc. Cái xưởng này đúng là nơi lý tưởng để đào
tạo "xếp cu-ly". Nhiều người hay nói đùa dân kỹ sư mình
một cách rất thân thương như thế. Mỗi khi phải vào Xưởng
Đúc thực tập thì người cứ "lấm như than" (không phải
lấm như bùn). Anh nào anh nấy, đen thủi đen thui vì bụi than,
khăn tay bịt mặt như chàng Zoro (phim ảnh cùng tên) đi bắt
quân gian, bận rộn cuốc cuốc, xúc xúc đống than "hất" vào
lò
đốt. Thầy Granotier chỉ dễ tính khi chơi, chẳng hề dễ
tính khi học bao giờ. Tôi nhớ có một lần, trong giờ thực
tập, ông chợt hỏi tôi bằng tiếng Việt :"Mấy cái?" Nay
tôi cũng chẳng nhớ ông hỏi là mấy cái gì, chỉ nhớ là
phải tính toán cái gì gì đó, kết quả sẽ là bao nhiêu cái.
Tôi giật mình lập lại nguyên văn câu hỏi của ông :"Mấy
cái". Ông cau mày hỏi lại :"Tôi hỏi anh, anh tính ra mấy cái?".
Tôi nhìn ông, mặt đỏ gay ấp úng không trả lời được.
Thầy Granotier không hỏi nữa và bỏ đi. Tôi biết thầy không
muốn làm mặt tôi phải đỏ thêm lên vì ngượng, ngượng
vì tính mãi không ra được mấy cái. Tôi không thể nhớ nổi
mấy cái của nợ ấy là mấy cái gì, tôi chỉ nhớ được
hai tiếng "mấy cái" tiếng Việt ngắn ngủi mà lại thân thương
đó. Nghe đâu vợ thầy là người Việt.
Khi nói tới Xưởng Đúc, tôi
không tôi không thể liên tưởng tới thầy Thoại và thầy
Phục (thầy Phục là phụ tá thầy Granotier trong Xưởng Mộc
làm khuôn đúc). Thầy Thoại dáng người nhỏ nhắn dễ thương,
dạy môn "Luyện kim" có liên quan mật thiết với Xưởng Đúc.
Thầy Thoại tốt nghiệp bên Đức về, phụ tá thầy Granotier.
Mỗi khi thầy Thoại "lên lớp", thầy ôm theo một chồng sách
cao ngất ngưởng để trên bàn. Khi giảng bài, tay phải thầy
viết lên bảng thì tay trái thầy lại xóa đi ngay. Lúc nào
bảng cũng sạch sẽ, sinh viên vô phương chép lại cho đủ
câu. Tay viết, tay xóa là cái tật của thầy, tính thì có
thể sửa, tật thì chịu dù là sinh viên cố sửa cho thầy.
Về sau sinh viên nghĩ ra "chước quỷ mưu thần", chia nhau mỗi
đứa viết vài chữ rồi ráp chúng lại với nhau để học.
Bài học lúc đó toàn bằng tiếng Tây, thật khổ cho thằng
tôi. Có những ông thầy Tây mới từ Pháp qua dạy, chưa quen
"thổ ngơi", cứ thao thao bất tuyệt, sinh viên chỉ còn biết
há hốc mồm ngồi chiêm ngưỡng cái cảnh thầy giảng thầy
nghe, không lấy "note" nổi.
Ngoài những xưởng kể trên,
còn có những phân xưởng khác như phân xưởng Máy Dụng Cụ
ngổn ngang những máy tiện, máy phay, máy bào; phân xưởng
Gò Hàn. Đặc biệt có Phòng Thí Ngiệm về "sức chịu vật
liệu" đứng độc lập do thầy Martin trụ trì. Thầy Martin
dạy môn Sức Chịu Vật Liệu (Resistance des Materiaux) và Kỹ
Nghệ Họa.
Nói đến thầy Martin, tôi nhớ
tới tác phong chững chạc của ông, một người tốt nghiệp
tại một trong những trường nổi tiếng bậc nhất nước
Pháp (Art et Metiers), và cũng là ông thầy có hình ảnh "thực
dân" nhất trong số những ông thầy Tây mà tôi được học.
Thực dân nhất nhưng cũng thương sinh viên nhất. Thầy không
quản công sức giải đáp mọi thắc mắc của chúng ta và
thầy cũng biết cười tủm tỉm với những câu hỏi xem chừng
ra ngớ ngẩn. Mỗi khi thầy gọi sinh viên lên "hỏi bài", ai
không trả lời được thì ông cứ tự bứt đầu, bứt tai
mình, dậm chân rồi đuổi "nạn nhân" về chỗ. Có một lần,
đến phiên tôi "bị" thầy gọi lên bảng, thò chân vào dép
"săng-đan" thì dép đã bị "thằng" nào chơi nghịch đá đi
đâu mất rồi vì khi ngồi học tôi thường hay tháo nó ra
cho mát chân. Tôi vội giật ngay đôi dép của thằng ngồi
bên cạnh là Nguyễn Bỉnh Cương chạy phóng lên. May quá, hôm
đó tôi trả lời được những câu hỏi hóc búa của thầy.
Trước khi thầy cho điểm vào sổ, thầy khẽ ngửng đầu
lên nhìn tôi mỉm cười, cái mỉm cười hiếm hoi ấy làm
tôi nhớ tới bây giờ. Thoát. Tôi nhớ thầy Martin dùng cuốn
sách "Resistance Des Materiaux" của Chillon, tôi phải "order" từ
bên Pháp, đợi đến nửa năm sách mới về nên chỉ đủ
kịp dùng cho nửa năm học còn lại. Bộ sách "Element De Constructions"
gồm 10 cuốn, thời gian tôi đặt mua cũng phải mất nửa năm,
nhưng được cái bộ sách này dùng được cho đến khi ra trường.
Đến khi ra trường vẫn còn dùng nó được để tham khảo
khi cần. Sinh viên Việt Nam ta lúc đó khổ thế đấy. Sách
toán
hay vật lý của Pháp ở bậc Trung học thì học sinh
có thể mua dễ dàng ngay tại nhà sách Khai Trí nằm trên đường
Lê Lợi, không khó khăn gì. Tôi nhớ cuốn sách giải toán
"Journal De Mathematique" gồm những bài giải các đề thi tuyển
của các trường lớn bên Pháp, rất hay.
Những câu chuyện ở Xưởng
Cơ Khí thì nhiều lắm lắm, mỗi phân xưởng tôi đều có
những kỷ niệm cần được kể ra. Và nói đến Xưởng Cơ
Khí mà không nhắc tới những buổi Lễ nhập môn hay
những buổi Dạ vũ tất niên hàng năm nổi tiếng thì
thật là một thiếu sót vô cùng nhưng tôi xin để dành khi
khác.
Chuyện thể thao
Thôi, tôi tạm rời cái Xưởng
Cơ Khí độc đáo, thân yêu duy nhất của Trường để ra sân
bóng truyền cho dãn gân dãn cốt. Tôi xin kể một vài kỷ
niệm ở cái sân bóng truyền này.
Ngoài cái bản chất "văn thì
dốt vũ thì nhát" ra, thể lực của tôi hồi đó thuộc loại
"ho hen gày còm", "liễu yếu đào tơ (?!)" một thứ liễu ăn
thì nhiều mà chẳng béo (mập) lên được bao nhiêu, có lẽ
giun sán ăn cả. Tôi ra sân với cái thân khẳng khiu, Vì khẳng
khiu nên tôi không bao giờ dám cởi áo hay quần dài khi ra sân
vì sợ các cô, những bông hoa thướt tha biết nói hiếm hoi
bên trường Kỹ Sư Hóa Học gần đó chiêm ngưỡng. Tôi cứ
đóng nguyên bộ, vẫn giầy, vẫn áo trong quần và vẫn thắt
lưng da chỉnh tề. Vì khẳng khiu nên bọn cùng "team" chỉ cho
tôi đứng sát lưới và chỉ được đánh banh khi chúng gọi
tới tên. Tôi chỉ còn biết đứng sát lưới nhìn trái banh
qua lại. Chúng nâng, chúng truyền, chúng đập không hề có
tôi được dự phần vào. Chúng chỉ cho tôi dự phần vào
những trái thuộc "trái hư, trái thối" mà chúng đánh hỏng
hay không thể đỡ nổi. Hễ trận nào thua là chúng đem tôi
ra làm thịt, đổ thừa. Toán thua phải đãi toán thắng một
chầu Hải Ký Mì Gia trong Chợ Lớn. Tiền tôi kiếm được
của những ngày "kèm học tư gia" cho con nhà giàu đều thay
phiên "cúng" cho chúng cả. Còn một tay ra sân cũng "cậu" như
tôi là Nguyễn Bỉnh Cương (vừa sau khi ra trường, Cương có
học bổng của chính phủ Pháp cho theo học tiếp ở bậc Tiến
sĩ cùng với Châu Tùng Thiện và Nguyễn Xuân Thanh. Thiện mới
mất năm 2020 tại Paris). Người to mồm hay "nạt nộ" anh em
nhất trong "team" vẫn là "người ruồi reo máu lửa" Nguyễn
Hoàng Thu (nay sống ở Úc). Hoàng Duy Bình (nay sống ở Pháp)
thì đánh banh cứ như múa, khều khều như sợ trái banh đau
hay sợ bẩn tay vậy. Hắn xà ẹo xà ẹo, uốn éo mỗi khi
đáng banh, nhưng nhờ hắn cao nên "đập" banh rất hay và "cản"
banh rất nghề. Hoàng Thanh (nay sống tại Mỹ) thì lâu lâu
mới ra sân, luôn đứng cuối sân để "cầy" banh lên. Những
hôm trời mưa, banh ướt sũng, vừa trơn vừa nặng, lúc đó
Hoàng Thanh trở thành tay "cầy" số một. Tất nhiên, những
hôm trời mưa như thế thì tôi thất nghiệp, chỉ được ngồi
ngoài vỗ tay cổ võ, nhưng nếu "team" phe ta thua thì vẫn cứ
phải góp phần cùng "chung tiền" cho toán thắng đi ăn. Nhớ
đến "chúng", những người bạn cùng lớp (vỏn vẹn 25 người)
hay bạn đồng môn, là tôi như đang nhớ đến những ngày
vui trong đời.
Nhiều chuyện để kể lắm,
như chuyện ăn chơi, nhảy đầm và những chuyện
trên Giảng đường cũng xin được hẹn kỳ sau, tôi
xin được tạm ngừng kể lể ở đây.
Kết luận
Bốn năm học ở trường QGKSCN
là bốn năm xương máu của tôi, bốn năm để lại cho tôi
biết bao vui buồn hỗn độn, thất thường. Đúng như anh Thành
nói, khi còn trẻ ta sống với tương lai, lúc về già sống
với quá khứ. Nay về hưu, ngồi nghĩ lại, tôi mới nhận
ra rằng những kỷ niệm xa xưa ấy lại thường chính là một
trong những nguồn hạnh phúc của tôi lúc này, lúc ở cái
tuổi "chưa già nhưng không còn trẻ nữa", hay nói cách khác
ở cái tuổi "chớm già" hay "bát thập cổ lai hy". Cười.
Vài hình ảnh bạn cùng khóa

|