Chúng
tôi đến Busselton trong buổi sáng nắng vàng ấm áp. Không
cần vội vã vì biết rằng đây là một thành phố nhỏ, dân
số chừng 38,000 (2018), chúng tôi sẽ có nhiều thời giờ ngắm
cảnh và khám phá ra các nét đặc biệt của Busselton.
Busselton tuy gọi là thuộc về
miền Tây của Australia, nhưng vị trí thật đúng là tận cuối
vùng tây nam. Busselton được biết danh nhờ bãi biển khuất
gió và những đàn cá voi xuất hiện theo mùa. Busselton chỉ
xa Margaret River 50km. Margaret River là một vùng trồng nho nổi
tiếng, thêm vào đó có hãng bia và nhiều cửa hàng thủ công
nghệ để quyến rủ du khách. Du thuyền lớn thường ngưng
lại tại Busselton, đưa khách vào bờ bằng thuyền nhỏ (tender
boat). Nếu có ai muốn đi Margaret River thường tới Busselton
trước rồi đi chơi các vùng phụ cận bằng xe du lịch.

Bãi biển
Busselton Cầu tàu
Từ ngoài khơi, nhìn vào Busselton,
tôi thấy bãi biển Busselton cát trắng với hàng cây xanh như
cảnh bãi biển Nha Trang ngày xưa. Quang cảnh thoáng đãng, yên
bình như những buổi chiều tôi về lại thành phố, sau ngày
cắm trại và tắm biển ngoài đảo Hòn Tre. Cầu tàu Busselton
dài gần 2km., xây dựng từ năm 1864, là cầu tàu bằng gổ
dài nhất của vùng nam bán cầu. Từ chân cầu, tôi thấy các
thuyền buồm đủ màu theo gió căng buồm, từ từ tiến ra
biển sâu. Vì không chuẩn bị máy ảnh khi ấy, tôi rất tiếc
đã không thâu nhận được cảnh an thái, tươi vui này. Trên
cầu, một chiếc xe lửa nhỏ nhưng khá dài chạy chầm chậm,
ngộ nghĩnh như đồ chơi, chở du khách ra đầu cầu để quan
sát sinh vật biển và san hô. Sau khi lên được cầu tàu, thấy
du khách sắp hàng dài quá nên chúng tôi bỏ cuộc để dành
thời giờ đi thăm thành phố.
Figtree
lane shopping center
Fig tree |
 |
Đi ra khỏi công viên Busselton
Jetty, chúng tôi lên chiếc xe tour bus, không phải trả tiền
vì được đài thọ bởi chính phủ. Xe chạy quanh thành phố,
thỉnh thoảng ngừng xuống trạm để khách lên xuống. Người
tài xế chỉ cho chúng tôi các trạm và dặn chúng tôi nhớ
đến đó nếu muốn trở về. Sau khi chạy hết một vòng quanh
thành phố, chúng tôi xuống xe tại Figtree Lane, một khu bán
hàng nhỏ. Đi vòng quanh ngắm nghía hàng hóa thủ công nghệ,
quần áo..sau khoảng 20 phút tôi bèn rủ ông xã vào quán cà
phê bánh ngọt, ngồi trên cái bàn lộ thiên, dưới bóng cây
vả khổng lồ, chúng tôi đùa giỡn với những chú chim biển
háu ăn và quan sát khách bộ hành, phần đông là người địa
phương. Thời tiết ấm áp, gió nhẹ mơn man rung rinh cành lá,
khu vực này tuy là khu buôn bán nhưng rất yên lặng và thanh
bình.
Muốn tìm hiểu thêm về sinh
hoạt nơi đây, chúng tôi vào tiệm Woolworths, đi quanh nhìn
hàng hóa và giá cả, xem xét có gì khác lạ hơn xứ mình không?
Sau 10 phút chúng tôi ra khỏi tiệm vì chẳng kiếm được cái
gì khác lạ và thích thú cả. Bước vào tiệm thuốc tây bên
cạnh, tiệm này ngoài thuốc ra, cũng có nhiều vật dụng linh
tinh như những tiệm thuốc nhỏ tại California. Thấy tôi mua
một ống dầu nóng để thoa bóp cái đầu gối tội nghiệp
của mình, bà dược sĩ giới thiệu một loại khác, theo ý
bà thì tốt hơn, rẻ hơn; sản xuất tại địa phương mà
chính bà cũng hay dùng. Tánh tình người Úc dể thương và
tốt lành như vây làm tôi rất cảm động.
Tiệm
ăn Việt
Ra khỏi tiệm thuốc tôi chợt
thấy một tiệm ăn Việt nam, tên là "Phố Sài Gòn". Tôi bèn
gọi Tuấn: Hôm nay mình đi "Phố Sài Gòn". Anh đang ngơ ngác
thì tôi chỉ cho anh tiệm ăn bên kia đường. Hớn hở nắm
tay nhau, chúng tôi băng qua đường để đi "kéo ghế".
Vào tiệm, ngồi xuống bàn,
không thấy có người chào đón hoặc đưa thực đơn mà sau
quầy chỉ có một phụ nữ trung niên người địa phương
đang bày biện từng hộp thức ăn, dọn dẹp đồ đạc và
tính tiền. Nhiều khách bước vào, trả tiền nhận thức ăn
mang đi. Tôi bước lên hỏi thì ra mình phải tự lấy thực
đơn, chọn món ăn, trả tiền, chờ chốc lát sẽ có người
trong bếp mang ra. Trong cuộc đàm thoại, tôi thấy có anh làm
trong bếp cứ nhìn mình và mĩm cười. Khi thấy tôi đang kiếm
thêm tiền lẽ để trả, anh chạy ra, bảo cô ta đừng lấy
thêm tiền nữa. Thì ra đó chính là anh chủ tiệm, người
Việt Nam. Anh tên Hội, cùng gia đình đến từ trại tỵ nạn
Galang 2, Indonesia vào năm 1992, được qua Úc và định cư tại
Tây Úc từ đó. Anh rất vui mừng khi gặp chúng tôi. Xứ này
ít du khách Việt vì thành phố rất nhỏ, gặp người Việt
chúng tôi cảm thấy thật vui.
Hôm nay chúng tôi được ăn
phở và gỏi cuốn. Sau này mới biết tiệm được đánh giá
gần 5 sao và người địa phương rất thích. Hèn chi thực
khách khá đông, nhiều gia đình người Úc đem theo trẻ con.
Những đứa trẻ này ăn thức ăn Việt thật giỏi, cha mẹ
không cần bắt ép, nài nỉ chi cả.
Hình trên
tường đường Prince - Busselton, Western Australia
St. Mary
Anglican Church
Ăn xong, ra khỏi tiệm, tôi
thấy có một cửa hàng tên là "The reject shop". Vì tò mò, tôi
chạy vào xem, thấy cũng gần giống như các "outlet" bên Mỹ.
Tại địa điểm chờ xe bus,
tôi đi quanh, chụp ảnh các hình vẽ trên tường cùng quang
cảnh phố trước khi xe đến. Lần này tôi chú ý nhiều hơn
đến nhà cửa và phong cảnh thành phố. Xe chạy qua công viên,
dọc theo dòng sông nhỏ, có một nhà thờ bằng đá xinh xắn
gọi là St. Mary Anglican Church, xây năm 1840, là nhà thờ cổ
nhất trong vùng Western Australia.

Về lại công viên Jetty, tôi lại
đi lòng vòng kiếm chổ nghỉ ngơi và cơ hội chụp ảnh. Có
một khu vực triển lãm xe cổ và chợ lộ thiên, tôi đi quanh,
ngắm những thổ sản thủ công của dân địa phương đang
bày bán, chuyện trò với họ và mua quà cho các cô con gái
thân yêu của mình.
Tôi vào thăm tòa án xưa, xây
năm 1860 nay chỉ dùng để thăm viếng, và thêm tòa nhà trưng
bày đá quý, xương thú và đồ thủ công nghệ. Đây là trụ
sở của Busselton Art Society. Ngoài sân có pho tượng đồng
của một người đàn bà đang mang bầu, y phục xưa, xách một
bọc sách, đứng bên cái rương, dường như đang đón chờ
cổ xe ngựa nào đó. Pho tượng đẹp và buồn, gợi nhớ một
quá khứ xa xôi.
Trong công viên sát biển, tôi
chụp lại các hình vẽ trên tường, màu đen trắng của họa
sĩ Jack Bromell, những con chim trắng loanh quanh kiếm ăn dưới
bóng cây và lủ trẻ chơi đùa trong nắng. Trên bãi cát trắng
tinh người nghỉ ngơi, kẻ đùa chơi trong nước. Những người
tắm biển chỉ quanh quẩn trong vùng lưới an toàn để đề
phòng nạn cá mập.

Busselton
Jetty
Trên chiếc thuyền "tender boat"
trở về lại du thuyền lớn, tôi leo lên tầng cao, mong tìm
các thuyền buồm để chụp ảnh. Buồn thay, tôi không còn
thấy chiếc thuyền buồm nào nữa.
"Thời gian tựa cánh chim
bay...qua dần những tháng cùng ngày." (Hoài cảm - Cung Tiến").
Ngày qua và tôi cũng trôi theo về bến mới.
Tôn
Nữ Thu Nga
San Dimas,
August 19th. 2020.
Ảnh tư
liệu của Tôn Nữ Thu Nga
|