
Tiểu thuyết gia Erich Maria
Remarque (1898-1970)
"Chỉ có Niềm tin là
đáng nuôi dưỡng khi bóng tối vây phủ
trên giấc mộng loài
người".
Nhận định tác phẩm: Một
thời để yêu và một thời để chết:
Tiểu thuyết của Erich Maria Remarque với lời
viết giản dị, dễ hiểu, đậm nét vị tha, nhân đạo,
an phận, yêu quê hương và chấp nhận số mệnh của
một người thanh niên chót sinh ra trong thời chinh chiến
chứ không phức tạp như André Malraux, không hận thù như
Malaparte, không tàn nhẫn như Norman Mailer và không tuyệt vọng
như Hemingway. Một thời để yêu và một thời để chết"
là tình yêu giữa chiến tranh với đầy lửa và máu,
với đắng cay, với nuớc mắt và hoài vọng. Tình yêu và
chiến tranh là những tiếng khóc của trái tim, là xót xa
cho thân phận và là rạo rực của nhớ mong. Sự diễn
tả tài tình quá lời văn của Erich Maria Remarque đã đưa
người đọc hình dung ra được một chiến trường khốc
liệt với xác người không vẹn toàn, xình thổi, vùi
chôn dưới từng lớp tuyết, những cảnh điêu tàn, những
nóc nhà cháy, những bức tường đổ nát, những đống
gạch vụn...Một thời để yêu và một thời để chết"
là
một tác phẩm có giá trị về phương diện nhân đạo,
vị tha của con người đối với con người như được
viết trong cuốn sách này: Tác giảHoài Nguyễnnhận
định rằng: Phần lớn "Những tác phẩm của Erich
Maria Remarque chỉviết về những đau khổ, sự chết, sự tàn
phá mất mát của chiến tranh, những đau thương mà con người
phải gánh chịu trong thời chiến. Nhưng ông không để cho
nhân vật của mình đi vào trạng thái tuyệt vọng, mà luôn
hướng họ đến đỉnh cao của sự hy vọng và niềm tin. Vì
khi còn có niềm tin, còn có hy vọng thì thế giới của con
người vẫn còn tồn tại".
Phải, chiến tranh luôn đi đôi với đói nghèo,
chết chóc, sợ hãi. Trong văn chương Erich Maria Remarque, người
đọc nhận thấy những áng văn đượm rõ nét đau thương,
nỗi thất vọng, sự tan vỡ, tang tóc và nước mắt.
Ông đã lên án những cuộc chiến
tàn khốc và hủy diệt biết bao thế hệ, đẩy biết bao
số phận con người vào nỗi khốn cùng. Một trong những
tác phẩm hay nhất nói về đề tài chiến tranh của tác giả
Erich Maria Remarque mà tôi muốn đề
cập và sẽ tham luận là tác phẩm:Một thời để
yêu và một thời để chết (1954), do dịch giả Lê Phát
chuyển ngữ, xuất bản năm 1985, câu chuyện đã làm rung động
hàng hàng triệu trái timcủa độc giả. Trong tác phẩm
Một
thời để yêu và một thời để chết, Erich Maria Remarque
đã kể lại câu chuyện bi thảm, trạng thái hoang mang của
một người lính Ðức trẻ với một trái tim nhân ái, bản
tính nhân hậu, đích thực, bằng lòng với hiện tại
và chấp nhận ra đi trong sự chết. Trở về từ mặt trận
Nga-Ðức năm 1948 để nhìn thấy con phố Hakeastre đổ vỡ,
cha mẹ mất tích. Ðứng giữa đống gạch vụn của chính
gia đình mình, Ernst Graber ở trong trạng thái bơ vơ, lạc
lõng. Bên cạnh Ernst Graber là Elizabeth Kruse, thông minh, dịu
dàng, trong sáng, mãnh liệt và nồng nàn đã giúp họ
vượt qua những thử thách, những nghiệt ngã của cuộc
sống lứa đôi trong thời loạn và chấp nhận hy sinh hạnh
phúc cá nhân cho cái gọi là "chủ nghĩa tự do", dù biết
rằng nó hoàn toàn phi lý. Ý tưởng yêu và chết theo nhà
văn Ấn Nikita Dudani trong quyển sách: All about you: "Kỷ niệm
là tất cả những gì bạn có, giúp mình vượt qua những phong
ba bão táp và bị đời sống quay nhừ tử trong cuộc sống
hàng ngày sau khi bạn mất một ai đó!" (Memories is all
that you have, which help you survive the storms and struggles of your
daily life after you lose someone!).
Đọc "Một thời
để yêu và một thời để chết", để chứng kiến một
tình yêu không những không thiếu sự ngọt ngào mà nó còn
đầy khắc khoải và lo âu. Nhà văn Mỹ Richard Puz trong tác
phẩm "The Carolinian" đã nói:
"Cái chết để lại nỗi đau không ai có
thể chữa lành,
tình yêu để lại ký ức không ai có thể
lấy đi được".
Những cuộc chiến và ngày
trở về:
Theo tác giả Cường
Nguyễn, Erich Maria Remarque viết về chiến tranh không phải
bằng sự lấp lánh của những tấm huân chương mà bằng tất
cả nỗi bi thiết và đớn đau tột cùng. Bắt đầu từ thập
niên 60 những tác phẩm của nhà văn
người Đức Erich Maria Remarque được dịch ra tiếng
Việt, xuất hiện khá nhiều tại
các nhà sách ở saigon và chiếm được cảm tình của hàng
triệu độc giả qua nhiều thế hệ. Phải chăng những áng
văn tác tuyệt của Erich Maria Remarque đã giúp cho người
đọc nhìn và thấu hiểu được sự khốc liệt của bom
rơi, đạn pháo trên khắp mảnh đất
nằm ven bờ biển Đông. Máu và nước mắt, tình yêu
và mất mát là những điều mà người Việt chúng ta đã
chứng kiến và trải qua hơn nhiều thập niên, khiến cho
ta thấu hiểu một cách sâu sắc những gì mà nhà văn Erich
Maria Remarque truyền tải trong mỗi tác phẩm của mình.
Hầu hết những tác phẩm của Erich Maria
Remarque không nhiều thì ít nhắc đến sự hoang tàn, đổ
vỡ, chiến tranh, chết chóc. Có phải là vì
ông đã lỡ sinh ra trong thời chiến, tham gia vào các cuộc
chiến thảm khốc, sống chết qua đường tên mũi đạn,
nhân chứng những cái chết phi lý của đồng đội,
sự tàn phá của những trận mưa bom vào thành phố
vốn dĩ đã tiêu điều, nay lại trở thành hoang tàn
đổ vỡ thêm. Tác giả Cường
Nguyễn đã viết: "Trên văn đàn
thế giới, bên cạnh tiểu thuyết gia người Mỹ Ernest Hemingway,
Erich Maria Remarque là một trong số những nhà văn đầu tiên
trên thế giới viết về chiến tranh với tinh thần phản chiến
được thể hiện một cách rõ nét và mang màu sắc "phi giới
tuyến". Ông viết bằng sự cảm thông và thương yêu lớn
lao, với một trái tim nhiệt thành và khao khát một cuộc sống
hạnh phúc mà đáng lý ra con người phải được
thừa hưởng trọn vẹn. Điều này đã làm nên sức
sống cho tác phẩm của Remarque cũng như góp phần đưa ông
lên hàng những nhà văn chương phương Tây viết về chiến
tranh hay nhất của thế kỷ 20 trong làng văn hóa nghệ
thuật". Tuy nhiên, chính vì sự lên án chiến tranh một
cách mạnh mẽ và đích thực này
mà Remarque bị buộc tội "phản bội
những người lính của chiến tranh thế giới bằng văn
học" dưới thời Đức Quốc xã, bị tước quốc tịch Đức
và phải sống lưu vong. Năm 1954, khi đã trên đỉnh vinh
quang, Remarque vẫn phải gặp không ít thái độ định kiến
của các nhà phê bình văn học Đức
và sự kiểm duyệt của các ông chủ xuất bản vàđộcgiả
vì họ coi đó như một mưu toan bôi
nhọ người quân nhân Đức, bằng chứng là hai cuốn
tiểu thuyết Mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh và Đường
về bị Đức quốc xã đem đốt. Ðiều này không
xa lạ cho lắm đối với độc giả người Việt, nhà
thơ Phùng Quán cũng bị khai trừ khỏi Hội nhà văn tại
Hà Nội, ông bị xa thải ra khỏi quân đội vì những những
vần thơ qúa chân thật như trong bài thơ: Chống tham ô lãng
phí, trích trong Giai phẩm mùa Thu tập II (1956).
..."Những con chó sói lãng phí quan
liêu
Nhe răng cắn rứt thịt da cách mạng! ..."
...Trung ương Ðảng ơi!
Lũ chuột mặt người chưa hết
Ðảng lập đội quân trừ diệt
- Có tôi! đi trong hàng ngũ tiền phong".
(Trích Giai phẩm mùa Thu tập II 1956)
Hay trong bài thơ Lời mẹ dặn (1957).
..."Tôi muốn làm nhà văn chân thật,
chân thật trọn đời
Ðường mật công danh không làm ngọt được
lưỡi tôi
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã
Bút giấy tôi ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá..."
Erich Maria Remarque đã chứng kiến nhiều cái chết
thương tâm và vô nghĩa lý của đồng đội. Mặc dù ông rất
dũng cảm và tích cực tham gia công tác cứu thương, chăm sóc,
cứu đồng đội cho tới khi chính mình cũng bị thương vì
mảnh đạn. Suốt hai năm (1917-1918) nằm tại Bệnh viện St-Vincenz
ở Duisburg, song chính từ cái chết của đồng đội và được
tin mẹ của ông qua đời càng khiến tâm trạng ông thêm trầm
uất. Thế chiến I kết thúc, nhưng chiến tranh đã dạy cho
Erich Maria Remarque một bài học cay đắng về cái gọi là "chủ
nghĩa yêu nước" ở một xã hội mà sinh mạng con người hoàn
toàn bị coi rẻ mà chúng ta thấy trong cuốn tiểu thuyết "Một
thời để yêu và một thời để chết" (Phạm Huy).
Những cuộc chiến và ngày
trở về:
Theo tác giả Cường
Nguyễn, Erich Maria Remarque viết về chiến tranh không phải
bằng sự lấp lánh của những tấm huân chương mà bằng tất
cả nỗi bi thiết và đớn đau tột cùng. Bắt đầu từ thập
niên 60 những tác phẩm của nhà văn
người Đức Erich Maria Remarque được dịch ra tiếng
Việt, xuất hiện khá nhiều tại
các nhà sách ở saigon và chiếm được cảm tình của hàng
triệu độc giả qua nhiều thế hệ. Phải chăng những áng
văn tác tuyệt của Erich Maria Remarque đã giúp cho người
đọc nhìn và thấu hiểu được sự khốc liệt của bom
rơi, đạn pháo trên khắp mảnh đất
nằm ven bờ biển Đông. Máu và nước mắt, tình yêu
và mất mát là những điều mà người Việt chúng ta đã
chứng kiến và trải qua hơn nhiều thập niên, khiến cho
ta thấu hiểu một cách sâu sắc những gì mà nhà văn Erich
Maria Remarque truyền tải trong mỗi tác phẩm của mình.
Hầu hết những tác phẩm của Erich Maria
Remarque không nhiều thì ít nhắc đến sự hoang tàn, đổ
vỡ, chiến tranh, chết chóc. Có phải là vì
ông đã lỡ sinh ra trong thời chiến, tham gia vào các cuộc
chiến thảm khốc, sống chết qua đường tên mũi đạn,
nhân chứng những cái chết phi lý của đồng đội,
sự tàn phá của những trận mưa bom vào thành phố
vốn dĩ đã tiêu điều, nay lại trở thành hoang tàn
đổ vỡ thêm. Tác giả Cường
Nguyễn đã viết: "Trên văn đàn
thế giới, bên cạnh tiểu thuyết gia người Mỹ Ernest Hemingway,
Erich Maria Remarque là một trong số những nhà văn đầu tiên
trên thế giới viết về chiến tranh với tinh thần phản chiến
được thể hiện một cách rõ nét và mang màu sắc "phi giới
tuyến". Ông viết bằng sự cảm thông và thương yêu lớn
lao, với một trái tim nhiệt thành và khao khát một cuộc sống
hạnh phúc mà đáng lý ra con người phải được
thừa hưởng trọn vẹn. Điều này đã làm nên sức
sống cho tác phẩm của Remarque cũng như góp phần đưa ông
lên hàng những nhà văn chương phương Tây viết về chiến
tranh hay nhất của thế kỷ 20 trong làng văn hóa nghệ
thuật". Tuy nhiên, chính vì sự lên án chiến tranh một
cách mạnh mẽ và đích thực này
mà Remarque bị buộc tội "phản bội
những người lính của chiến tranh thế giới bằng văn
học" dưới thời Đức Quốc xã, bị tước quốc tịch Đức
và phải sống lưu vong. Năm 1954, khi đã trên đỉnh vinh
quang, Remarque vẫn phải gặp không ít thái độ định kiến
của các nhà phê bình văn học Đức
và sự kiểm duyệt của các ông chủ xuất bản vàđộcgiả
vì họ coi đó như một mưu toan bôi
nhọ người quân nhân Đức, bằng chứng là hai cuốn
tiểu thuyết Mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh và Đường
về bị Đức quốc xã đem đốt. Ðiều này không
xa lạ cho lắm đối với độc giả người Việt, nhà
thơ Phùng Quán cũng bị khai trừ khỏi Hội nhà văn tại
Hà Nội, ông bị xa thải ra khỏi quân đội vì những những
vần thơ qúa chân thật như trong bài thơ: Chống tham ô lãng
phí, trích trong Giai phẩm mùa Thu tập II (1956).
..."Những con chó sói lãng phí quan
liêu
Nhe răng cắn rứt thịt da cách mạng! ..."
...Trung ương Ðảng ơi!
Lũ chuột mặt người chưa hết
Ðảng lập đội quân trừ diệt
- Có tôi! đi trong hàng ngũ tiền phong".
(Trích Giai phẩm mùa Thu tập II 1956)
Hay trong bài thơ Lời mẹ dặn (1957).
..."Tôi muốn làm nhà văn chân thật,
chân thật trọn đời
Ðường mật công danh không làm ngọt được
lưỡi tôi
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã
Bút giấy tôi ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá..."
Erich Maria Remarque đã chứng kiến nhiều cái chết
thương tâm và vô nghĩa lý của đồng đội. Mặc dù ông rất
dũng cảm và tích cực tham gia công tác cứu thương, chăm sóc,
cứu đồng đội cho tới khi chính mình cũng bị thương vì
mảnh đạn. Suốt hai năm (1917-1918) nằm tại Bệnh viện St-Vincenz
ở Duisburg, song chính từ cái chết của đồng đội và được
tin mẹ của ông qua đời càng khiến tâm trạng ông thêm trầm
uất. Thế chiến I kết thúc, nhưng chiến tranh đã dạy cho
Erich Maria Remarque một bài học cay đắng về cái gọi là "chủ
nghĩa yêu nước" ở một xã hội mà sinh mạng con người hoàn
toàn bị coi rẻ mà chúng ta thấy trong cuốn tiểu thuyết "Một
thời để yêu và một thời để chết" (Phạm Huy).
Tóm lược truyện Phim
Một thời để yêu và một thời để chết:
Phim Một thời để yêu và một thời để
chết (Time to Love and a Time to Die) trình chếu năm 1958 tại
Mỹ do Douglas Sirk là đạo diễn với hai tài tử John Gavin (Ernst
Graber) và Lilo Pulver (Elizabeth Kruse) đóng vai chính. Phim dựa
trên tiểu thuyết "Zeit zu leben und Zeit zu sterben" (Thời để
sống và thời để chết) của nhà văn
Đức Erich Maria Remarque, bối cảnh là Mặt Trận phía
Đông trong Chiến tranh thế giới thứ hai và nước Đức thời
Đức
Quốc xã.
Nhân vật chính trong chuyện là Ernt Graber, một
người lính Đức đóng quân ở mặt
trận phía Đông trong những ngày cuối cùng của cuộc
chiến tranh thế giới thứ hai, anh và các đồng đội Steinbrenner
và Hirschland được lệnh giết thường dân Nga. Trên chiến
trường, tuyết rơi từng đợt kế tiếp nhau lấp kín xác
chết, nhiều lớp tuyết dày quá, lính cứu thương không biết
mà đem chôn, trông giống như người ta phủ một tấm vải
trắng tinh lên một cái giường vấy máu và nhơ nhớp bùn.
Những ngày mưa ròng rã đã tạo thành những vùng bùn
lầy để lộ ra những xác chết từ những trận đánh trước,
thây người chết rã ra, trương phình, dưới ánh sao, trưởng
như thây ma nhỏm dậy, chập chờn trong bóng đêm, đưa đến
một sự sợ hãi đến kinh hồn.
Ernst Graber, một quân
nhân Đức trải qua 2 năm ở mặt trận với quân Nga
trong Thế chiến II. Sự khốc liệt và phi lý của chiến tranh
đã đem đến cho Ernst Graber những câu hỏi vô vọng về giá
trị cuộc sống. Từ mặt trận, Ernst được nghỉ phép ba
tuần, anh trở về quê hương. Suốt trên đường về, anh
chỉ thấy cảnh tàn phá thê lương, những ngôi làng bị tàn
phá chỉ còn sót lại một vài nóc nhà cháy đen hiện rõ ra
thêm trên bãi tuyết đang tan, không tìm thấy mái nhà của
mình trong đống gạch vỡ trong những ngày cuối của cuộcchiến,
khi nước Đức đang tang thương vì bom đạn
của Đồng minh. Đang trong lúc không tin tức của cha mẹ và
cũng không biết là cha mẹ anh còn sống, chết hay
mất tích, Ernst Graber tình cờ gặp Elisabeth Kruse, người bạn
thưở xưa. (Elisabeth Kruse là con gái của một trí thức phản
kháng, bác sĩ Kruse đang bị Gestapo giam giữ).
Tình yêu của đôi bạn được mô tả là tình
yêu của những đứa trẻ vì chiến tranh mà bị "bỏ rơi và
mồ côi". Họ yêu nhau, tình yêu của những con người bị
lưu lạc trong bom đạn, mãnh liệt và chân thật. Ðám cưới
của Ernst và Elisabeth giản dị không
người thân hay bạn bè tại tòa
thị chính. Tình yêu của Graber và Kruse ngọt ngào, nồng nhiệt
mặn nồng của cuộc sống lứa đôi chen lẫn một nỗi sợ
của con người không biết thời cuộc sẽ về đâu. Trong thời
gian này, các cuộc không kích liên tục của Đồng
Minh đã làm gián đoạn mọi khoảnh khắc yên bình của
Ernst và Elizabeth. Họ muốn trốn chạy sự khắc nghiệt của
cuộc chiến bằng tình yêu, nhưng cả hai chỉ là những nạn
nhân của thời chiến, họ không có sự lựa chọn nào
cả dù chỉ là một giấc mơ thật bình thường. "Một
cụm mây bay chậm qua bầu trời, những con chim kêu ríu rít
trong những cội phong già. Một con bướm xanh lơ lảo đảo
từ đoá hoa này đến đoá hoa khác và bay lượn trên những
hố lạc đạn. Một chập sau đó, một con bướm khác bay tiếp
theo với con bướm xanh kia. Hai con bướm vui đùa với nhau và
săn đuổi nhau. Tiếng ì ầm ngoài mặt trận vang động lớn
dần. Hai con bướm giao cấu nhau và bay cao lên chậm chạp trong
không khí ấm và sang..."
John Gavin and Lilo Pulver
trong phim Một thời để
yêu và một thời để chết
Ba tuần lễ phép thoáng qua như một giấc
mơ, Ernst Graber trở lại chiến trường khi giấc mộng chưa
tròn và định mệnh quá éo le. Tàn cuộc chiến,
Đức thua trận và rút lui. Trên đường về trại,
Ernst và Hirschland được lệnh bắt và hành sử bốn người
tù du kích Nga nhưng Ernst đã ngăn cản và bắn chết Hirschland.
Ðịnh mệnh qúa khắt khe, Errnst đã ngã gục bởi viên đạn
của một người tù du kích Nga mà anh đã phóng thích
và tha mạng chết trong lúc anh đang đọc lá thư của Elizabethbáo
tin nàng đang mang thai đứa con của họ. Viên đạn oan nghiệt
đã tiễn chân anh về thế giới bên kia khi... "đôi
mắt chàng khép lại". Nhà thơ Tô Cách Lan Thomas Campbell
cho rằng" "To live in hearts we leave behind is not to die."
(Khi
bạn yêu thì bạn không sợ chết).
Erich Maria Remarque đã lấy cuộc tàn sát nhân
loại tàn khốc nhất từ trước đến nay trong lịch sử thế
giới làm nước Đức bị tàn phá đến kiệt quệ, với 6
triệu 600 trăm ngàn người chết, để làm chủ đề của tác
phẩm. Ðọc "Một thời để yêu và một thời để chết",
với lối văn diễn đạt trong tác phẩm chúng ta cảm thấy
hòa bình đã được đổi bằng máu và nước mắt, tính lãng
mạn và lời văn trữ tình như một đóa hoa mọc lên từ máu
và bùn. Vì thế mà các tác phẩm của ông vẫn được mọi
thế hệ người đọc nghiên cứu và thưởng thức. Tác phẩm
này cũng đã được Phạm Duy đã phổ nhạc năm 1974, qua giọng
hát của ca sĩ Thanh Lan.
..."Chút ánh sáng cho cuộc đời
Cất tiếng hát cho một Người
Mắt biếc soi nụ cười
Tươi như cánh hoa tình ái..."
Tóm lại tôi hoàn toàn đồng ý với nhận
định của tác giả Hoài Nguyễn: "Nếu đọc nhiều tác
phẩm của Erich Maria Remarque, có thể nhận ra ông là người
phát ngôn cho"một thế hệ bị chiến tranh tàn phá dù họ
đã thoát khỏi hòn tên mũi đạn". Erich Maria Remarque đã
để lại cho thế giới văn chương những tác phẩm có
giá trị về lãnh vực văn học, đạo đức, tinh thần
trách nhiệm, sự hy sinh và lòng yêu tổ quốc. Tôi
tin chắc rằng những tác phẩm của ông sẽ là một tấm
gương mẫu cho thế hệ trẻ noi theo. Chẳng những
thế, tên tuổi cũng như những tác phẩm của ông sẽ
được lưu truyền và tồn tại mãi theo thời gian và
trong lòng độc giả.
Cuộc đời và sự nghiệp
văn chương:
Erich Maria Remarque sinh ngày 22 tháng 6 năm 1898,
Osnabrück, Đức. Sau khi tốt nghiệp
trung học, Remarque vào Đại học Münster, nhưng chưa học xong,
ông đã bị gọi nhập ngũ và chiến đấu ở mặt trận phía
Tây ở tuổi 18 trong thời Chiến tranh thế giới thứ nhất.
Ngày 12-06-1917, Erich Maria Remarque được chuyển tới Mặt trận
phía Tây, phục vụ ở Sư đoàn Bộ binh Trừ bị số 2 đồn
trú tại Hem-Lenglet. Ngày 26-06-1917, Erich Maria Remarque được
chuyển tới trung đội Công binh Bethe, thuộc đại đội 2,
trung đoàn Bộ binh trừ bị thứ 15, đồn trú ở giữa Torhout
và Houthulst. Ngày 31-07-1917, Erich Maria Remarque bị thương vì
trúng các mảnh đạn trái phá, được đưa về điều trị
trong một bệnh viện quân đội Đức
cho tới hết cuộc chiến. Chính những tháng ngày vào
sinh ra tử trong lửa đạn này là nguồn tài liệu quý giá
cho Erich Maria Remarque khi viết cuốn tiểu thuyết đầu tay.
Sau Chiến tranh, Erich Maria Remarque giải ngũ, học
ngành sư phạm và làm giáo viên tiểu học dậynhạc (1919-1920)
tại Wietmarschen, thuộc huyện Lingen nay thuộc huyện Grafschaft
Bentheim. Năm 1920 ông làm việc ở Klein Berßen thuộc huyện
Hümmling nay là huyện Emsland và từ tháng 8 năm 1920 sáp nhập
vào thành phố Osnabrück. Sau khi nghỉ dạy học, ông đã làm
nhiều việc khác nhau như nhân viên thư viện, buôn bán, nhà
báo, biên tập viên vv...
Erich Maria Remarque viết văn từ khi 16 tuổi bằng
những bài tiểu luận, thơ và quyển tiểu thuyết đầu tay
là Die Traumbude, được xuất bản năm 1920. Năm 1925, Erich
Maria Ramarque được tuyển vào làm biên tập cho tạp chí Sport
Im Bild ở Berlin với vai trò phóng viên thể thao. Năm 1927, Im
Westen Nichts Neues (Mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh"
và là một
tác phẩm nổi tiếng nhất về Thế chiến I của ông, xuất
bản1929, cuốn tiểu thuyết thể hiện cái nhìn của một chàng
trai 20 tuổi về những sự tàn nhẫn, xót xa và đầy nhân
bản; về kinh nghiệm từng trải và số
phận của một toán lính Đức sống sót trong Chiến
tranh thế giới thứ nhất, khiến danh tiếng của Remarque nổi
như cồn. Sách được dịch ra hơn 30 thứ tiếng, bán hơn 8
triệu cuốn. Ngày 31/01/1929, nhà xuất bản Propylaeen cho ra mắt
cuốn tiểu thuyết "Mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh"
(Im Westen nichts Neues - All Quiet on the Western Front) vànhanh
chóng được Ernest Johannsen và Lewis Milestone chuyển thành phim
năm 1930, nhưng mãi đến những năm
1950 mới được chiếu tại Tây Đức.
Tác phẩm "Bản du ca của loài người không
còn đất sống" (Liebe deinen Nächsten) của Erich Maria Remarque
được André R. Picard dịch sang Pháp ngữ với tựa đề "Les
Exilés".
Tác phẩm nói về thân phận của những kẻ
lưu vong, di dân; về tình bạn, tình yêu giữa những người
xa lạ, họ đã vượt qua số phận để tìm thấy tự do và
tương lai. Một cuộc di cư của những người nghèo khốn khổ,
luôn phải chạy trốn vì không có giấy tờ tùy thân. Những
cái éo le, nhẫn tâm của loài người đồng thời thấy được
một khát vọng sống, nghị lực phi thường của những con
người bị xã hội bỏ quên. Chiến tranh đã biến dân tộc
của một nước trở thành những kẻ di dân bất đắc
dĩ, phải rời khỏi nước Đức để làm kẻ tha hương.
Như thế, tự do của kẻ yếu sẽ là danh vọng của kẻ mạnh;
vậy thì, trong tác phẩm "Bản du ca của loài người không
còn đất sống" (Liebe deinen Nächsten), Erich Maria Remarque
đã áp dụng triết lý nhân sinh của triết gia người
Ấn Rabindranath Tagore: "Càng mượn cái danh nghĩa của tự
do bên ngoài, người ta càng dễ nghiền nát cái tự do bên
trong của con người". Những kẻ di dân dìu dắt nhau đi
hết đoạn đường chông gai, nương tựa vào nhau để tồn
tại trong suốt cuộc hành trình lưu vong. Christian Nevell Bovee
cũng đã từng nói "khi tất cả những cái khác đã mất,
tương lai vẫn còn". Tác phẩm "Bản du ca cuối
cùng của loài người không còn đất sống" của Erich Maria
Remarque viết từ năm 1939 thuậu lại: Steiner, Kern và Ruth Holland
đã từng lênh đênh trên biển, trong rừng, lưu vong trên từng
quốc gia và sau hơn 43 năm, họ đã một cuộc sống bình yên
hạnh phúc trên quê hương thứ hai. Ðây chính là hình ảnh
của những người Việt Nam đã vượt biên trên con tàu
định mệnh trong những năm 1978-1990 để đi tìm tự do
như Jean Paul Sartre đã nói một câu tương tự: "Con
người bắt buộc phải có tự do trong bất cứ hoàn
cảnh nào". Có lẽ Erich Maria Remarque ảnh hưởng bởi
ảnh hưởng bởi Henri Barbusse, Immanuel Kant, Rainer Maria Rilke,
Karl May, Jean Paul Sartre, Christian Nevell Bovee và Rabindranath Tagore
trong văn chương của ông.
Có lẽ Erich Maria Remarque ảnh hưởng bởi
ảnh hưởng bởi Henri Barbusse, Immanuel Kant, Rainer Maria Rilke,
Karl May, Jean Paul Sartre, Christian Nevell Bovee và Rabindranath Tagore
trong văn chương của ông.
Năm 1927, quyển tiểu thuyết Station am Horizont
(Trạm ở chân trời), của Erich Maria Remarque được in
trên tạp chí thể thao (Sport Im Bild). Năm 1931, quyển Der
Weg zurück (Đường trở về).Drei
Kameraden (Ba người bạn), mô tả một thời kỳ kéo
dài nhiều năm của Cộng hòa Weimar, từ cuộc lạm phát phi
mã năm 1923 đến cuối thập niên 1920. Năm 1939, Liebe deinen
Nächsten (dịch sang tiếng Anh là Flotsam hoặc
Love
Thy Neighbour), đăng trên tạp chí Collier's dưới bản
dịch sang tiếng Anh, Khải Hoàn Môn, được xuất bản
lần đầu bằng tiếng Anh trong năm 1945, năm sau được
xuất bản bằng tiếng Đức, trở thành quyển sách bán
chạy nhất với doanh thu gần 5 triệu dollar Mỹ. Ngoài ra còn
những cuốn tiểu thuyết như Đường
về, Tia lửa sống, Bia mộ đen... cũng là những
tác phẩm có giá trị, gắn liền với sự nghiệp văn
chương và tên tuổi của ông trong làng văn
Đức và châu Âu thời đó. Hầu hết các tác phẩm của
của Erich Maria Remarque đều mang khuynh hướng phê phán và tố
cáo xã hội mãnh liệt đồng thời miêu tả sức hủy hoại
kinh hoàng của chiến tranh đế quốc đối với thể chất
và đời sống tinh thần của con người.
Năm 1939, nhà văn Erich
Maria Remarque bị tước quốc tịch Đức, bắt đầu sống
lưu vong và trở thành công dân Mỹ năm 1947, sống tại Hollywood,
ông qua đời ngày ngày 25/9/1970.
Khánh
Lan