Xuân về,
Tết đến mà không có pháo kêu, đào nở, lại thiếu cả
bánh chưng, dưa hành thì thật là nhạt nhẽo, mất hết cả
ý nghĩa trang nghiêm, ấm cúng.
Thôi đành nâng chén trà, hướng
về quê hương. Hết tuần trà, mời các bạn cùng đi xông
đất, chúc tết ba "thằng" nổi tiếng của làng xóm Việt
Nam, mà mọi người, sống ở đâu cũng đã có dịp làm quen
qua sách vở, ca dao, câu vè, giọng hát. Đó là thằng Cuội,
thằng Bờm và thằng Mõ. Nói đến tên ba nhân vật này thì
ai cũng biết, nhưng hỏi đến gốc gác, quê quán của chúng
thì chưa chắc tất cả mọi người đều hay.
Mời các bạn cùng đi tìm hiểu
tiểu sử của thằng Cuội, thằng Bờm và thằng Mõ.
Từ bé, chúng ta thường nghêu ngao
ca hát :
Thằng
Cuội ngồi gốc cây đa,
Để trâu ăn
lúa, gọi cha ời ời.
Cha còn cắt cỏ
trên trời,
Mẹ còn cưỡi
ngựa đi mời quan viên.
Ông thời cầm
bút cầm nghiên,
Ông thời cầm
tiền đi chuộc lá đa.
Rằm tháng tám, năm nào cũng nghe giọng
ca nhi đồng hồn nhiên tươi thắm :
Bóng trăng
trắng ngà
Có cây đa to
Có thằng Cuội
già
Ôm một mối
mơ...
Dù Cuội có sống đến già vẫn còn
bị gọi là thằng. Người ta khinh thường Cuội quá. Chắc
tại Cuội có tật hay nói dối. Tuy vậy cũng có người nổi
ghen thấy Cuội được sống gần Hằng Nga. Chả thế mà Tản
Đà nổi cơn ngông "Muốn làm thằng Cuội" :
Đêm thu
buồn lắm chị Hằng ơi
Trần thế em
nay chán nửa rồi
Cung quế đã
ai ngồi đó chửa
Cành đa xin chị
nhắc lên chơi
Có bầu có bạn
can chi tủi
Cùng gió cùng
mây thế mới vui
Rồi cứ mỗi
năm rằm tháng tám
Tựa nhau trông
xuống thế gian cười.
Cuội
là ai ?
Các tự điển đều giải thích
rằng Cuội là một nhân vật, có sách ghi là một đứa bé
con của chuyện cổ tích, ngồi dưới gốc cây đa trên mặt
trăng.
Tại sao Cuội đang sống đằng sau
lũy tre làng tự dưng lại bay bổng lên tận mặt trăng, sống
với chị Hằng như vậy ?
Chuyện kể rằng :
Một hôm Cuội
vào đốn củi trong rừng gặp một ổ hổ con. Cuội lấy rìu
đập chết. Chợt có tiếng hổ mẹ rống ở đằng xa, Cuội
sợ quá leo tót lên một cây ngồi nấp. Hổ mẹ lồng lộn
quanh đám hổ con, rồi bỏ đi về phía bờ suối. Cuội tụt
xuống theo rình. Hổ mẹ đến cạnh một cây con, đớp ít
lá, mang về nhai nát, rịt cho hổ con. Chỉ một lát hổ con
tỉnh lại. Mẹ con hổ bỏ khu rừng đi chỗ khác.
Cuội ra bờ suối
đào cây con mang về trồng trong vườn. Từ đấy Cuội có
món thuốc cải tử hoàn sinh, cứu mọi người. Cuội rất
quý cây thuốc, ngày nào cũng dặn vợ phải chăm sóc nó. Cuội
cấm vợ không được đái vào gốc cây vì cây sẽ dông lên
trời. Nghe dặn nhiều lần, vợ Cuội phát cáu. Đã vậy thì
cứ đái xem chuyện gì xảy ra ?
Vợ Cuội vừa
đái vào gốc cây xong thì cây bỗng rung động, tróc gốc bay
lên trời. Đúng lúc Cuội ở rừng về, chỉ kịp bám rễ
cây níu lại. Nhưng cây cứ bay lên, kéo Cuội tới tận mặt
trăng.
Từ đó đến
giờ Cuội vẫn còn ngồi ở gốc cây, sống bên cạnh chị
Hằng.
Ý nghĩa câu chuyện
thật là hóm hỉnh. Cuội là đứa chuyên nói dối, lừa ngừa
khác. Lần nào cũng dùng mẹo đắc thắng đám cường hào,
phú hộ. Đến khi Cuội muốn hoàn lương, ra tay cứu đời,
thì lại bị thất bại. Cuội thay đổi bản chất nhưng cuộc
đời xung quanh thì không thay đổi. Cuội phải đi sang một
thế giới khác tìm đất sống.
Mỗi đêm sáng
trăng, từ trời cao Cuội ngạo mạn ngó đám đàn em của mình
đang khua môi múa mép, tung hoành nơi quê hương xa vời vợi.
(Theo Nghiêm Toản, Việt Nam văn học
sử trích yếu, Khai Trí, Sài Gòn, 1968).
Cuội có mặt ở Việt nam từ lúc
nào ? Chắc là đã từ lâu. Đại Nam quốc âm tự vị của
Huỳng Tịnh Của (1895) đã nói đến Cuội. Tên Cuội từ đâu
ra ?
Lê Ngọc Trụ (Tầm Nguyên tự điển
Việt Nam, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1993) cho rằng chữ Cuội có gốc
Hán Việt là chữ "Quải". Chữ Quải (Thiều Chửu) hoặc Quảy(Đào
Duy Anh) có nghĩa là lừa dối, dụ dỗ người khác mua hàng,
bắt con nít đem bán (mẹ mìn).
Trong dân gian có chuyện thằng Quải
và thần mặt trăng :
"Mặt trăng tính
nóng nảy, lại hay xà xuống gần dòm ngó hạ giới làm cho
dân chúng khốn khổ vì nóng bức. Bấy giờ có thằng Quải
định tâm cho thần một vố. Nó nắm cát trèo lên cây cao
ngồi đợi. Lúc mặt trăng xà xuống, nó ném cát túi bụi
vào mặt thần. Mặt trăng từ đó bị cát làm mờ đi và cũng
từ đó thần không dám xuống gần hạ giới, cho nên ở hạ
giới đỡ nóng bức." (Đinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên,
Văn học dân gian tập 2, Nxb Đại học và Trung học chuyên
nghiệp, Hà Nội 1973).
Thằng Quải chống lại thần mặt
trăng, trong khi thằng Cuội thì lại bay lên sống trên mặt
trăng. Nội dung hai chuyện mâu thuẫn nhau. Hay là thằng Quải
và thằng Cuội chỉ là hai anh em họ của dòng họ nói dối
chứ không phải là cùng một nhân vật ?
Để giải quyết mâu thuẫn, tôi
cho rằng chữ Cuội còn có thể là do chữ hán việt "Cuống"
mà ra. Cuống nghĩa là nói dối, lừa dối (Thiều Chửu, Đào
Duy Anh).
Cũng nên nói thêm rằng thằng Cuội
không dính dáng gì với hòn cuội (sỏi đá) của tiếng Việt.
Mãi đến năm 1937, tự điển Việt-Hoa-Pháp
của Gustave Hue vẫn chưa có chữ cuội nghĩa là sỏi đá. Năm
1940 nhà xuất bản Tân Dân cho in "Vang bóng một thời" của
Nguyễn Tuân, trong đó có truyện ngắn Hương Cuội, kể chuyện
làm kẹo mạch nha bọc cuội. Chữ cuội (tiếng Pháp là galet,
calcul) chính thức có mặt trong Dictionnaire vietnamien-chinois-fran�ais
của Eugène Gouin (IDEO,
Saigon, 1957) kể từ năm 1957. Đào
Đăng Vỹ (Việt Pháp từ điển, Nguyễn Trung, Sài gòn, 1961)
dịch chữ cuội là caillou, galet.
Phải chăng chữ cuội (sỏi đá)
đã đến từ chữ calcul hoặc caillou của tiếng Pháp ? Và
kẹo cuội của Nguyễn Tuân đã được gợi ý từ kẹo cuội
(dragée) của Pháp ?
Ngày nay, sỏi và cuội được định
nghĩa là "đá nhỏ tròn và nhẵn, thường ở lòng sông, lòng
suối" và cuội là hòn sỏi lớn, sạn là hòn sỏi nhỏ (từ
điển tiếng Việt, Văn Tân chủ biên, Nxb KHXH, Hà Nội, 1977)
Về kích thước hòn cuội, hòn sỏi,
từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên, Nxb KHXH, Hà Nội,
1988) mô tả gần giống Larousse (cuội : 1-10 cm, sỏi : 2-10mm).
Thằng
bờm có cái quạt mo
Phú ông xin đổi
ba bò chín trâu
Bờm rằng : bờm
chẳng lấy trâu
Phú ông xin đổi
ao sâu cá mè.
Bờm rằng : bờm
chẳng lấy mè
Phú ông xin đổi
ba bè gỗ lim.
Bờm rằng : bờm
chẳng lấy lim
Phú ông xin đổi
con chim đồi mồi
Bờm rằng : bờm
chẳng lấy mồi
Phú ông xin đổi
nắm xôi, bờm cười.
Nhiều người nghĩ rằng bờm là cái
bờm tóc. Thằng Bờm là đứa bé con để bờm.
Chữ bờm được Văn Tân định
nghĩa là :
- hàng lông dài mọc trên cổ một
vài giống thú
- chỏm tóc để dài, che thóp trẻ
con
- nói trẻ con còn bụ sữa.
Ngày xưa, trẻ con để chỏm tóc
trên đỉnh đầu hoặc hai bên đầu đến khoảng 5,6 tuổi
thì bắt đầu để tóc dài. Bé hơn, chỉ độ 2,3 tuổi thì
để chỏm tóc che thóp ngừa va chạm và tránh gió. Như vậy
thì thằng Bờm còn là một đứa bé con còn bụ sữa, còn
để chỏm che thóp. Đứa bé độ 2, 3 tuổi. Lớn hơn nữa
thì ta thường gọi là bụ bẫm thay cho bụ sữa.
Một đứa bé mới 2, 3 tuổi thì
chắc là chưa hiểu biết gì về giá trị của ba bò chín trâu,
của ao sâu cá mè, của bè gỗ lim.v.v. Chẳng lẽ lõi đời
như phú ông lại mất thì giờ làm chuyện vô ích như vậy
?
Bài ca dao chỉ tượng trưng cho một
cuộc phỉnh gạt, dụ dỗ trẻ con thôi à ? Hay là nó muốn
nhấn mạnh, nhắc đi nhắc lại sự đối đầu giữa phú ông
và thằng Bờm ?
Trong xã hội xưa, phú ông đại
diện một giai cấp, giai cấp địa chủ giàu có của thôn
quê. Đối đầu với giai cấp này, bài ca dao đưa ra thằng
Bờm đại diện cho giai cấp nông dân nghèo khổ. Không phải
ngẫu nhiên mà Vũ Ngọc Phan (Tục ngữ, Ca dao, Dân ca Việt
Nam, Nxb KHXH, Hà Nội, 1978) đã xếp bài Thằng Bờm vào đề
tài "Những mâu thuẫn trong sinh hoạt giữa nông dân và địa
chủ". Thằng Bờm là một người nghèo, một nông dân phải
đối đầu với một người giàu, một địa chủ. Thằng Bờm
không phải là một đứa bé bụ sữa, còn để chỏm che thóp.
Người nông dân nghèo thấu hiểu
lòng dạ của phú ông. "Mấy đời bánh đúc có xương, mấy
đời trọc phú có thương dân nghèo". Họ không tin rằng phú
ông rộng lượng đến độ mang cả của cải kếch xù, quý
giá ra đánh đổi lấy một cái quạt mo tầm thường. Đằng
sau những lời cám dỗ, thế nào chả có cạm bẫy. Vì thế
mà Bờm khăng khăng không chịu.
Bờm có đầu óc thực tế, chất
phác.
Không để người lừa mình và mình cũng không có ý lừa người
khác. Mà làm sao lừa được phú ông, làm sao mà "ăn" được
phú ông. Tốt nhất là "thuận mua, vừa bán". Vả lại anh nông
dân nghèo nào mà chả thích được ăn no bụng. Giá trị cái
quạt mo cũng chỉ xấp xỉ, tương đương với nắm xôi thôi.
Thế là "thằng nghèo" bằng lòng
đánh đổi cái quạt mo lấy nắm xôi của phú ông.
Thằng Bờm, xét về gia cảnh, có
họ xa gần với thằng Bần trong câu ca dao :
Cờ bạc
là bác thằng Bần
Cửa nhà bán
hết đưa chân vào cùm.
Bờm là chữ nôm của chữ Hán Việt
"Bần", nghĩa là nghèo.
Có nhiều thành ngữ nói đến phú
và bần, giàu và nghèo :
- Phú bất
nhân, bần bất nghĩa.
- Phú quý sinh
lễ nghĩa, bần cùng sinh đạo tặc.
- Phú quý đa
nhân hội, bần cùng thân thích ly.
(Giàu sang nhiều kẻ tới nhà, khó
khăn nên nỗi ruột già xa nhau).
Thằng Mõ có mặt ở nông thôn Việt
Nam không biết từ bao giờ. Nhưng chắc chắn
là đã từ lâu. Vua Lê Thánh Tôn
đã làm thơ nôm vịnh thằng Mõ :
Gớm thay
lớn tiếng lại dài hơi
Làng nước ưng
bầu chẳng phải chơi
Mộc đạc vang
lừng trong bốn cõi
Kim thanh rền
rĩ khắp đôi nơi
Đâu đâu đấy
đấy đều nghe lệnh
Xã xã dân dân
phải cứ lời
Trên dưới quyền
hành tay cất đặt
Một mình một
cỗ thỏa lòng xơi.
Lời lẽ có vẻ kính trọng, ngược
hẳn với địa vị của Mõ trong xã hội xưa. Mõ là một nhân
vật không thể thiếu trong tổ chức làng xã.
"Dưới bọn tuần
đinh, làng nào cũng có một người làm nô lệ chung cho cả
hàng xã gọi là đạc phu.
Khi nào trong làng
có việc gì thì tên đạc phu phải đi mời mọc cả làng ra
đình hội họp. Hoặc có việc gì lễ dịch báo cáo cho làng
biết thì đạc phu gõ mõ đi rao suốt các ngõ. Nhà tư gia ai
có việc hiếu hỉ hoặc có việc giỗ kị muốn mời làng
thì cũng sai đạc phu đi mời.
(...) Đạc phu
là một kẻ đê tiện hơn hết các loài người, chỉ những
kẻ khốn khó mới đi nơi xa khuất chịu làm nghề ấy mà
thôi. Mà ai đã nhỡ phải bước ấy thì con cháu về sau, muốn
làm nghề gì mặc lòng, cũng không rửa được tiếng xấu."
(Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục,
Nxb Tổng hợp Đồng tháp, 1990).
Mõ gần gũi mọi người, đáng lẽ
phải được mọi người đối xử tử tế, thân mật, nhưng
không hiểu tại sao mõ lại bị khinh bỉ, chà đạp. Mõ bị
coi là nhân vật thấp nhất trong xã hội, chỉ có quyền cúi
đầu để mọi người sai bảo.
Có lẽ chính sự bất công và thiếu
đạo đức của xã hội đã khơi dậy sự phản kháng của
giới văn nghệ sĩ. Nhiều tác giả bênh vực mõ, tạo ra những
tình huống bất ngờ để cho mõ đóng vai trò gỡ rối cho
đám chức sắc trong làng.
Mọi người còn nhớ thằng Mõ của
Ngô Tất Tố có tài băm thịt gà, xứng đáng với danh hiệu
nghệ sĩ. Chỉ có thằng mõ mới gánh nổi trách nhiệm chia
phần công bằng cho cả làng. Một con gà "một người ăn cố
mới hết", được Mõ chặt ra chia làm 23 cỗ, 83 suất. Không
có "thiên tài" băm gà của Mõ, làng nước sẽ khó tránh được
những cuộc cãi nhau, tranh giành, thậm chí hại ngầm nhau.
Nhưng có lẽ giỏi nhất, thông minh
nhất trong làng Mõ, thì phải gắn huy chương vàng cho thằng
Mõ làng Cổ Nhuế của Hồ Hữu Tường (tôi được đọc cuốn
Phi Lạc sang Tàu của Hồ Hữu Tường vào khoảng đầu thập
niên 60, rất tiếc không nhớ tên nhà xuất bản). Thằng Mõ
được ông tiên chỉ của làng mời làm cố vấn, giải quyết
tất cả những chuyện rắc rối điên đầu. Mõ được sứ
Tàu bái phục sát đất.
Nam Cao cũng đưa ra một thằng Mõ,
vốn hiền lành lương thiện nhưng bị xã hội làm cho xấu
đi.
Tên
Mõ từ đâu ra ?
Cho tới đầu thế kỷ 20, thằng
Mõ còn mang tên là mộc đạc, rồi đạc phu.
Mộc đạc nguyên nghĩa là cái chuông
bằng đồng, có quả lắc bằng gỗ. Ngày xưa dùng "mộc đạc"
để đánh hiệu vào học. Do đó người ta gọi thầy học
là mộc đạc (Đào Duy Anh), hoặc đạc tư (Thiều Chửu), thầy
giảng đạo gọi là đạc đức (Huỳnh Tịnh Của).
Ta có thể suy ra rằng ngày xưa mõ
làng còn dùng chuông, trước khi dùng mõ.
Đầu thế kỷ 20, trong sách vở
chưa có tên thằng Mõ. Ngược lại chữ mõ (chuông mõ) đã
có mặt và được định nghĩa là đồ dùng làm hiệu lệnh,
bằng bộng cây hoặc bộng tre. Chuông mõ là tiếng gọi chung
đồ dùng của thầy chùa (Huỳnh Tịnh Của).
Cái mõ xuất hiện trước thằng
Mõ. Nhưng có thể nào cho rằng gọi là thằng Mõ vì nó gõ
mõ không ? Chắc chắn là không vì chẳng có ai dám gọi nhà
sư là thằng mõ.
Muốn tìm nguồn gốc chữ Mõ chúng
ta hãy tìm hiểu chính thằng mõ.
Phần đông mõ làng là những người
tha phương cầu thực, từ chỗ khác tới làng kiếm ăn. Bị
mọi người khinh rẻ. Làng xã chẳng cần biết và cũng không
cần tra hỏi lai lịch tên tuổi. Chỉ cần nói thằng mõ, ai
cũng biết nhân vật được nói tới.
Sách vở xưa dùng chữ "mỗ" để
gọi những người không biết tên. Chữ mỗ là đại danh từ
không chỉ rõ cái gì, người nào, được dùng khá phổ biến.
Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án (Tang
thương ngẫu lục, bản dịch của Đạm Nguyên, Sài gòn, 1962),
đưa ra một loạt các ông bà Mỗ : ông liệt sĩ Mỗ (họ tên
chưa thể tra xét được), bà mẹ phu nhân Mỗ. Thầy địa
lý Tả Ao là ông Mỗ, người làng Tả Ao, huyện Nghi Xuân (Hà
Tĩnh). Ông thượng thư Nguyễn Văn Giai thuở nhỏ học ông
Thái học sinh Mỗ.v.v..
Có thể cho rằng chữ Mõ, chỉ một
người không tên tuổi, là từ chữ Mỗ mà ra.
Xét về chức năng thì công việc
của Mõ là mời làng đi họp và báo tin của làng đến mọi
nhà.
Mời ai, tìm ai, tiếng hán việt
là "Mộ". Chữ mộ có thể đã được chuyển qua chữ nôm
thành mõ.
Mõ là người đi mời (mộ) làng
nước. Về sau các đồ vật được mõ dùng, hoặc các đồ
vật được dùng để làm hiệu lệnh, để rao gọi, đều
được gọi là mõ. - điếm làng có cái mõ cá làm bằng đá
tạc hình con cá. Tấm sắt cầm canh (chữ hán việt là thác)
cũng được gọi là mõ canh. Nhà sư lúc tụng niệm chú tâm
dùng mõ làm hiệu lệnh, giữ nhịp.
Bài thơ Thác thi (Vịnh cái mõ) của
Nguyễn Bỉnh Khiêm có câu :
Điêu đẩu
thiên cao dạ chuyển canh.
Được dịch là :
Trời cao,
tiu kẻng, đêm dời canh.
Và được chú thích rằng "Điêu
là cái kẻng (xưa gọi là cái tiu), đẩu là cái đấu dùng
trong quân đội để đong gạo nhưng cũng dùng để gõ làm
hiệu lệnh. Điêu và đẩu đều dùng như kẻng và mõ trong
quân đội". (Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nxb Văn học,
Hà Nội, 1983).
Tóm lại, thằng Mõ, người đi mời
mọi người trong làng, là do chữ mộ (mời) hoặc chữ mỗ
(không tên tuổi) mà ra. Và đồ nghề của Mõ thì được gọi
là cái mõ. Cái mõ có thể được làm bằng gỗ, bằng tre,
bằng gạch đá hay bằng sắt.
Nguyễn
Dư
Tết Kỷ Mão
2-1999.
|