Trống
Trường Thành lung lay bóng nguyệt
Khói Cam Tuyền
mờ mịt thức mây
Chinh phụ ngâm
Tác
phẩm văn vần của Đặng Trần Côn (1471) - Cổ bể thanh
đông Trường Thành nguyệt, Phong hỏa ảnh chiếu Cam Tuyền
vân - được vang danh nhờ bản dịch ra thành thơ của Đoàn
Thị Điểm hay Phan Huy Ích. Dịch giả vừa phát huy ưu điểm
nguyên tác, vừa sử dụng ưu thế thể thơ, lại biết kết
cấu thanh vận khéo léo, chỉ trong vài câu đầu đã nói lên
cảm xúc người chinh phụ về số phận ông chồng lẫm biệt
trên trận địa, Áo chàng đỏ tựa ráng pha, Ngựa chàng
sắc trắng như là tuyết in, về thân phận đơn chiếc
bản thân nàng ở khuê phòng sau một cuộc tiền đưa lưu luyến,
Bóng
cờ tiếng trống xa xa, Sầu lên ngọn ải oán ra cửa
phòng.... Cảnh sống của người chồng ở chiến trường
trong đêm thâu ở Trường Thành, giữa lửa hiệu chiếu lên
mây Cam Tuyền không thấy mà được tưởng tượng qua tiếng
trống, Ca quyên ghẹo làm rơi nước mắt, Trống tiều khua
như rứt buồng gan. Tiếng trống thật ra rất quen thuộc
với người Việt chúng ta: trống làng, trống tang, trống chầu,
trống đoàn, trống đội, trống thế gia, trống đọi tam,
trống trường,...Bàn chân nhỏ qua đồng qua ruộng, Tiếng
trống trường giục giã những mùa thi (Chữ Văn Long).
|
|
|
Trống
đồng Ngọc Lũ
Bảo
tàng lịch sử Hà Nội |
Tem
Việt Nam
Họa
tiết trên trống đồng |
Trống
đồng sông Đà
(Moulié)
Bảo tàng Guimet |
|
|
|
Nói về trống, mẫu
có tiếng nhất ở Việt Nam ta là trống đồng: trống đồng
Đông Sơn, trống đồng Ngọc Lũ. Thật ra là cả
một loại trống đồng tiêu biểu cho nền văn hóa Đông Sơn,
Ngọc Lũ của người Việt cổ. Cân đối, đồ sộ, khắc
họa hoa văn phong phú miêu tả sinh hoạt dân gian thể hiện
thời kỳ truyền thuyết ở nước ta. Ngôi sao nhiều cánh ở
giữa mặt trống tượng trưng cho thần Mặt Trời vì người
dân Văn Lang có quan niệm về thần Mặt Trời. Bao quanh các
ngôi sao có hình người (vũ sĩ), động vật (chim chóc), và
hoa văn hình học (vòng tròn chấm giữa tiếp tuyến, vòng tròn
đồng tâm chấm giữa có tiếp tuyến), chữ cổ người Việt.
Trống đồng tượng trưng cho quyền lực của các vị thủ
lĩnh ngày xưa. Các vị vua thưởng ban cho các tù trưởng người
dân tộc những chiếc trống đồng, thể hiện uy quyền của
nhà nước đối với các vùng tự trị, tự do tương đối.
Theo Hậu Hán thư, tướng Mã Viện nhà Hán sau khi dập tắt
cuộc nổi dậy của Hai Bà Trưng vào khoảng năm 40-43, đã
thu và nấu chảy trống đồng để đúc cột đồng khắc chữ
Ðồng
Trụ chiết Giao Chỉ diệt. Ðiều đó cũng cho thấy ý nghĩa
chính trị của trống đồng Ðông Sơn.Còn tìm ra được trong
vùng Đông Nam Á (Nam Dương, Thái Lan, Miến Điện, Cam Pu Chia,
Lào, Mã Lai, Phi Luật Tân), Nhật Bản, Nam Trung Quốc, Bắc
Việt Nam, dọc theo các con sông và đường thủy, trống đồng
thường là khu mộ táng quan trọng của quan chức trong làng,
đặc biệt mộ táng Đông Sơn ở Thanh Hóa. Người dân tộc
Mường tỉnh Hòa Bình sử dụng trống trong ngày hội hè. Sách
Cương mục nhà Hậu Lê ghi trống được diễn tấu với dàn
nhạc trong vương triều. Tổng số trống đồng tìm được
ở Việt Nam cho đến năm 1980 là 960 chiếc, trong đó có 540
chiếc thuộc loại trống đồng Ðông Sơn và 420 chiếc thuộc
trống đồng Ngọc Lũ. Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam đã
lưu giữ một bộ sưu tập lớn nhất thế giới gồm có nhiều
trống đồng. Theo kết quả ghi âm của Cao Xuân Hạo, đánh
vào vành 1-3 trống đồng được nốt si giáng; ở vành
4-5 được nốt mi và fa; ở vành 7 cũng được
nốt si giáng. Từ vành 9 trở ra lại trở lại nốt mi.
Về
mặt vật chất, hoạt động chủ yếu của trống đồng vẫn
là thực hiện chức năng của một nhạc khí.


Trống
diễn hành ở hai Hội diễn Paekche và Silla tại Hàn Quốc


Trống
Hàn Quốc biểu diễn tại Paris
Trống thấy khá
nhiều tại Thanh Hoá cho phép đoán Thanh Hoá là nơi sản xuất
và những trống cùng loại phân tán ở các nơi khác (Hà Đông,
Hà Nam, Hà Nội, Hải Phòng, Hoà Bình, Cao Bằng, Lào Cai, Sơn
Tây, Bắc Ninh, Hải Dương, Nam Định, Nghệ An) để dùng làm
vật biểu tượng quyền uy của tù trưởng. Nhờ các trống
đồng mà ta biết đại khái ngày xưa các bộ lạc của tổ
tiên ta thờ vật tổ là con chim Lạc, thờ thần mặt trời
(vì hình vẽ ở trung tâm mặt trời loé ra nhiều tia sáng),
lại có những hình người đội mũ cánh chim, mặc áo xòe
ra như lông cánh chim, rồi có cả mắt chim ở đầu mũi thuyền,
đầu mũi tên, trên mái chèo, bánh lái thuyền, ... Thuộc
loại đẹp nhất là trống tìm thấy năm 1902 ở Ngọc Lũ (tỉnh
Hà Nam) hiện đặt tại viện bảo tàng lịch sử ở Hà Nội.
Theo nhiều nhà khảo cứu, những hình vẽ trên mặt trống
đồng Ngọc Lũ là một quyển âm lịch, có tháng đủ,
tháng thiếu, có đêm trăng tròn, trăng khuyết, hay không có
trăng, lại có cả năm nhuận và chu kỳ 18 năm để tính tháng
dư, cũng như có những chỉ vạch về 4 mùa trong năm. Do đó,
vòng hình vẽ 18 con chim mỏ dài cánh lớn ở ngoài cùng là
hình vẽ một chu kỳ 18 năm, mỗi con chim ấy là 1 năm. Vòng
hình vẽ thứ nhất ở trong cùng gần trung tâm có 6 người
trang phục kỳ dị là những vị thần cai quản mỗi vị 1
tháng, trong 6 tháng đầu ở một bên và 6 tháng cuối mỗi
năm. Có thêm một hình người thấp bé hơn cạnh 6 người
ở một bên là để ghi tháng nhuận của năm dư. Vòng hình
vẽ thứ nhì ở giữa, có 6 con gà, 10 con hươu, rồi lại 8
con gà, 10 con hươu là hình vẽ những con vật tương trưng.
Gà chỉ đi ăn vào ban ngày, hươu đi ăn vào đêm trăng sáng.
Có 6 đêm vào đầu tháng từ 1 đến 6 không trăng; và 8 đêm
vào cuối tháng từ 22 đến 30 cũng không trăng. Những đêm
ấy không đi săn thú được. Và sau đó, khi có trăng thì có
thể tổ chức đi săn đêm. Tất cả các hình vẽ chim, gà,
hươu, người, đều tiến theo một hướng trong vòng tròn,
từ trái qua mặt, thuận theo chiều quay của Trái Đất đối
với người quan sát, hướng mặt về hướng Bắc (ngược
chiều quay của kim đồng hồ)... Tính toán sâu xa, các nhà
khảo cứu suy ra trống đồng Ngọc Lũ đã được bố trí
thành một cuốn lịch sắp xếp thông minh, ghi chép thời gian
tài tình, tỏ vẻ người xưa có tinh thần thực tế, hợp
lý, khoa học, chính xác.




TrốngKodo
Nhật Bản
Tiếng trống biểu
hiện quyền uy sấm sét hợp với tiếng sáo xuất hiện từ
tiếng gió vi vu thành một bộ nhạc cụ vừa gần gũi vừa
gây được cảm thông của thần linh tưởng như luôn phản
phất cạnh con người. Những hình vẽ trên mặt trống đồng
nhắc đến cảnh tế lễ thời thượng cổ và ai cũng tin việc
dùng trống trong tế lễ. Những điệu vũ, điệu múa đầu
tiên xuất phát từ những cảm xúc khi tâm lý bị khích động.
Nhạc và vũ thường đi cùng với nhau vì là kết hợp âm thanh
và điệu bộ. Tiếng trống trầm hùng theo nhịp đập là những
yếu tố thúc giục tâm lý, khiến người nghe muốn vùng lên,
tiến bước. Trống trận thường được dùng để thông tin
trong chiến trường. Vì vậy nó vừa là phương tiện truyền
tin, vừa là vật gây tác động tâm lý, cổ võ tinh thần cho
người ra trận. Trống trận Tây Sơn thì rõ là một
nét văn hóa độc đáo của vùng Bình định, điểm xuất phát
nghĩa quân vào năm 1771. Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ đều là
những người giỏi võ, không chỉ giỏi về công phu và nghệ
thuật, mà còn đặc biệt quan tâm đến việc hệ thống hóa
kiến thức về võ thuật tại địa phương. Võ nhạc Tây Sơn
nổi tiếng với bốn bài Luyện Quân, Xuất Quân, Công Thành
và Khải Hoàn. Bài Luyện Quân đánh trong lúc tập luyện, giữ
nhịp chuyển bộ cho đều. Bài Xuất Quân đánh với tiếng
thôi thúc dồn dập để tăng khí thế chiến đấu. Bài Công
Thành được trổi lên trong biết bao đợt Tây Sơn lâm trận,
công phá thành lũy đối phương. Bài Khải Hoàn với những
tiếng vui tươi làm phấn khởi quân binh sau khi chiến thắng.
Trống là nhạc cụ chính trong võ nhạc Tây Sơn, còn kết hợp
với kèn, đàn nhị và thanh la, chũm chọe. Trống trận Tây
Sơn gồm một bộ 12 cái, thường được cho tượng trưng cho
12 giáp. Bộ trống được dựng thành dàn, theo thứ tự ba
bậc tương ứng với quy tắc tam tài Thiên Địa Nhân. Bốn
trống lớn, đường kính khoảng 40 cm đứng hàng đầu, sau
là bốn trống nhỡ, quãng 30 phân và sau cùng là bộ trống
nhỏ, cỡ 20 phân, cũng bốn cái. Người cử trống đánh cả
hai tay và cùi chỏ, cùng hai dùi trống, dài khoảng 30 phân,
đánh cả hai đầu. Ðưa hai tay lên múa là có thể đánh cả
bốn mặt trống hay tang trống một lúc. Vào một bài trống,
người thiện nghệ có thể gây cảnh mưa rào thác đổ, khi
nhặt khi khoan, khi dồn dập bức tim, khi hào hùng phấn chấn.
Xem người múa trống là một nỗi thú như nghe một bản đàn.
Xem người múa
trống là một nỗi thú như nghe một bản đàn. Ở San José
cũng có diễn vở ca nhạc kịch đời Trần chống quân Mông
Cổ, ghi lại lịch sử đẩm máu giữa hai họ Lý và Trần,
tựa đề Lý Trần Việt, cũng có thể gọi Tiếng trống
La San. Diễn viên là các em học sinh trình diễn hết mình,
say mê sân khấu để tinh thần và thân thể hòa nhịp vào
kịch bản, hòa nhập với vũ đoàn với dàn trống vẫn là
âm thanh chính cho toàn bộ vở kịch. Các em La San, bằng những
tiếng trống hùng tráng từ đời Trần, đã trình diễn tha
thiết tình yêu quê hương. Ngày nào Hoa Kỳ còn vang dội tiếng
trống La San, ngày ẩy linh hồn Việt Nam còn sống động trong
lòng người nơi xa xứ.


Trống
sinh viên Việt Nam và Nguyễn Văn Chi


Ban
nhạc gõ Phù Đổng
Múa trống cũng
là một nghệ thuật rất được ưa chuộng ở các nước Ðông
Bắc Á như Nhật Bản hay trong các hội diễn Paekche, Silla ở
Hàn Quốc. Ở Nhật Bản, trống gọi là Taiko, phát xuất
từ tiếng Tàu tai gu, hay chính xác hơn là
wadaiko.
Trong các mộ phần thế kỷ VI, nhiều hình tượng bằng đất
nung đã được tìm ra, tay mang trống nhỏ. Cũng vào khoảng
các thế kỷ V-VII, nhiều nhạc sĩ từ Hàn Quốc di tản qua
đem theo những nhạc cụ. Dựa theo cuộc phát triển những
tuồng hát nô bắt đầu từ thời Trung Ðại và kabuki
thời Edo (1603-1868), công dụng trống nảy nở và kỹ thuật
sử dụng trở nên phong phú. Nghệ thuật taiko đồng
thời cũng theo dõi cuộc xây dụng chùa chiền cùng các lễ
lạt. Bắt đầu từ cuối thế kỷ XX, song song với những
hội diễn truyền thống, phong trào taiko trở lại lên
cao trong thị hiếu đương thời. Nhưng nếu tiếng trống lúc
xưa hùng tráng, dứt khoát để thúc trận, để tăng sĩ khí
cho quân đội lao lên phía trước, tiếng trống ngày nay trong
lễ hội thái bình vẫn còn mạnh mẽ, dồn dập làm phấn
khích, thêm tráng khí. Nhờ công lao truyền bá của nghệ nhân
dánh tống số một Daihahi Ogchi, nhiều nhóm được thành lập,
khác biệt nhau ở cách thức phối hợp các loại trống. Ở
đảo Sado (Sadogashima) bên Nhật Bản, ngoài khơi thành phố
Niigata, đoàn nhạc Kodo (có nghĩa tiếng tim đập hay tiếng
trống trẻ con) được tổ chức như một vũ nghệ đồng hóa
với một vũ đạo. Người Nhật ngày nay đã không ngừng phổ
biến tiếng trống của họ ra khắp thế giới. Các nhóm đánh
trống, ngoài việc tạo thanh còn chú trọng tạo hình để
khán giả thấy họ không chỉ xem và nghe trống, mà còn tìm
hiểu về lịch sử, văn hóa và con người Nhật. Nhóm Daiko
Project tham gia American Idol đã thành công thu hút được người
ngoại quốc vốn có sự khác biệt về văn hóa. Trong phim Shogun,
chúa Toranaga cho đánh trống lớn mỗi lần ra mặt trong một
buổi lễ. Nhóm Tsunagari Taiko ở Pháp phối hợp tiếng
trống và vũ điệu để phục vụ những khác vọng cao cả
như góp phần vào cuộc phát triển một thế giới tốt đẹp
hơn, cuộc đào tạo những nụ cười trên môi mọi người.
Hằng năm, vào dịp hoa đào nở rộ tháng tư trong vườn thành
Xô, cùng lúc với Nhật kiểu đến ăn uống và xem hoa hanami,
họ kéo nhau biểu diễn một buổi chiểu đem lại vui thích
cho những người đi dạo ở Công viên Sceaux.


Tiếng
trống Tây Nguyên – Dàn nhạc Cồng chiêng
Ở Việt Nam ta,
cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trung thời Bắc thuộc chống nhà Đông
Hán ngày nay được vinh danh trong một vở được xem là vở
diễn vào hàng đẹp nhất của sân khấu cải lương Việt
Nam : Tiếng trống Mê Linh. Vì hận nước, lại mang mối
thù khi chồng Thi Sách bị thái thú Tô Ðịnh giết hại, Trưng
Trắc và em gái Trưng Nhị lập bàn thờ tế chồng và mộ
binh, thề quyết trả thù. Hảy nghe Trưng Trắc cất lên lời
hiệu triệu: "..Hỡi đồng bào trăm họ, Giặc Ðông Hán
đang xéo giày đất nước, Nhục nào hơn nhục nô lệ ngoại
bang, Thà chết mà đứng thẳng, Không cam chịu sống quỳ,
Ðất nước Nam cẩm tú, Người dân Nam anh hùng, Trước đền
thờ Quốc Tổ, Thề hy sinh giết giặc cứu non sông, Xin thề!"
Và hân hoan khi đuổi hết được quân Hán ra khỏi bờ cõi
"Hãy nổi trống đồng, cho con cháu ngàn sau tiếp nối hồn
thiêng giống nòi bất khuất....Đất nước Nam độc lập muôn
đời!" Lời lẽ giản dị nhưng đầy khí khái. Nguyên tác
dựa trên kịch bản ca kịch 5 màn mang tên Trưng Vương
của soạn giả Việt Dung soạn vào khoảng những năm 1960,
được xuất bản vào năm 1972 tại Hà Nội. Sau khi đoàn Thanh
Minh được tái lập năm 1975, soạn giả Vĩnh Ðiền được
giao nhiệm vụ chuyển thể vở ca kịch sang cải lương. Ông
đặt tên mới cho vở cải là Tiếng trống Mê Linh và
hợp tác với hai soạn giả khác là Viễn Châu và Nguyễn Phương
để hoàn thiện kịch bản. Vở cải lương được đạo diễn
Ngô Y Linh dàn dựng trên sân khấu và đưa ra công diễn vào
dịp đón xuân 1977. Trong diễn hội tụ nhiều diễn viên tài
danh từng đoạt giải Thanh Tâm như Thanh Nga (1958), Hùng Minh
(1959), Bích Sơn (1960), Thanh Sang (1964), Bảo Quốc (1967). Ngay
sau khi công diễn, vở cải lương nhận được nhiều lời
khen ngợi. Các suất diễn đều chật cứng người xem, gợi
nhớ bóng hào quang của đoàn Thanh Minh - Thanh Nga lừng danh
trước 1975. Năm 1978, cùng với Bên cầu dệt lụa,
Tiếng
trống Mê Linh được chọn ghi hình, là những vở cải
lương đầu tiên được phát trên sóng truyền hình sau năm
1975. Một trong những đoạn diễn ca nổi tiếng nhất trong
vở được nhiều người biết đến với tên gọi Mê Linh
biệt khúc được cho là của soạn giả Vĩnh Điền. Xuất
xứ của điệu hát là từ một bài dân ca Phúc Kiến có tên
là Alysan hay Cao Xang Xim (Cao sơn thanh - Núi cao xanh),
được dùng nhiều trong các tuồng cải lương Hồ Quảng. Khác
với giai điệu nguyên bản có tiết tấu nhanh, vui tươi, soạn
giả Vĩnh Ðiền đã dùng bài này với tông nhạc da diết bịn
rịn hơn hẳn bài gốc, rồi cảm tác từ lớp diễn đó một
bản đặt tên Mê Linh biệt khúc.
 |
 |
 |
Giáo
sư Phương Oanh
|
Nghệ
sĩ Kim Chính
|
Giáo
sư Trần Văn Khê
|
Nhạc
cung đình Huế trên sân khấu Pháp
Từ trống đồng
Ngọc Lũ qua kodo, taiko Nhật Bản trở về trống trận
Tây Son, tiếng trống Mê Linh, trống thật là một nhạc cụ
truyền thống Á Đông. Năm 1996, lần đẩu tiên ban nhạc
gõ Phù Đổng từ Việt Nam qua Paris biểu diễn ở Unesco,
thành công thực hiện trống trận Tây Sơn, được vô cùng
hoan hô khi thực hành độc tấu tiếng trống vó ngựa cấp
báo thể hiện tốc độ trong chiến đấu. Nhắm mục đích
giữ gìn vốn văn hóa cổ truyền của cha ông, nghệ sĩ Ðức
Dậu, trưởng ban nhạc gõ, đã cất công sưu tầm và sử dụng
nhuần nhuyễn các loại nhạc cụ. Sinh ra tại Hà Tây, càng
lớn, năng khiếu âm nhạc càng đậm nét. Những lúc về quê,
chàng trai trẻ lại náo nức tham gia các lễ hội cổ truyền.
Năm 1986, vào TP. Hồ Chí Minh, vì quá yêu nhạc cụ dân tộc,
nghệ sĩ Ðức Dậu quyết định thành lập ban nhạc Phù Đổng,
với các nghệ sĩ anh chị em ruột trong một gia đình (Đức
Lợi, Ðức Bình, Ðức Quang, Bích Ðào, Ðức Tân, từng là
diễn viên thuộc Đoàn ca múa Hà Nội, Trường Cao đẳng Nghệ
thuật và Đoàn ca múa quân đội). Thêm vào đoàn có nghệ
sĩ Đức Dũng, mệnh danh là phù thủy trên dàn trống,
là anh em kết nghĩa của Đức Dậu. Năm 1980, khi biết được
tiềm năng về nhạc gõ của gia đình nhà Đức Dậu, cố nhạc
sĩ Nguyễn Xuân Khoát, Chủ tịch đầu tiên Hội Nhạc sĩ Việt
Nam đã khuyên ông nên thành lập đoàn nhạc gõ. Nhạc sĩ này
đã sáng tác bàiTiếngtrống đêm giao thừa tặng cho
ông. Và, Đức Dậu đã dùng trống để lột tả hồn của
tác phẩm. Bài biểu diễn đã mang lại thành công ngoài mong
đợi. Anh tâm sự quyết thực hiện lời tâm niệm đau đáu
của cố GS. Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước và nhạc sĩ Nguyễn Xuân
Khoát là sưu tầm và biểu diễn được các nhạc khí cổ
truyền dân tộc bằng cách hòa mình vào thiên nhiên và công
chúng để thể hiện cái hồn, cái hào khí dân tộc bằng
phong cách đương đại. Nghệ sĩ Ðức Dậu không chỉ tỏ
niềm đam mê vô tận của ông với âm nhạc dân tộc, khí
cụ của các dân tộc thiểu số, mà còn là một nghệ nhân
thực thụ với những trăn trở, suy tư về di sản văn hóa
phi vật thể của các dân tộc Tây Nguyên. Bộ trống dân miền
núi là tiếng sấm cầu trời đất, khích lệ nhuệ khí, tập
hợp dân quân, tiễn đưa người chết. Ngày thường, họ thường
đánh vào mặt trống bịt bằng da trâu cái, đến lễ hội
lớn mới đánh hai mặt, đó là kinh nghiệm qua những năm tháng
ông lên tận Đắk Lắk, Kon Tum tìm mua cổ vật. Theo Đức
Dậu, âm nhạc là cuộc đời, giải thoát những đau đáu,
trăn trở, khát khao, tham vọng, bế tắc trong đời sống của
từng tầng lớp. Niềm đam mê âm nhạc, đặc biệt là nhạc
cụ cổ truyền như một mạch ngầm cứ chảy trong người
nghệ sĩ, từ mê hoặc đến mộng mị.


Nhóm
Tsunagari Taiko ở Parc de Sceaux miền nam Paris
Ðoàn Phù Đổng
không phải là ban nhạc duy nhất đưa Việt kiểu về với
dân tộc. Hằng năm, trong các lễ hội, thường có những màn
biểu diễn trống. Việt kiểu vùng Paris đã từng được thưởng
thức những dàn trống hùng vĩ Cồng chiêng, dàn trống uy
nghi Đại Nội, dàn trống vui tươi sinh viên, tiếng trống
trận dồn dập của nghệ sĩ Kim Chính, tiếng trống nhẹ nhàng
của nghệ sĩ Phương Oanh, tiếng trống nghiêm chỉnh của nghệ
sĩ Nguyễn Văn Chi, tiếng trống chững chạc của cố nhạc
sĩ Trần Văn Khê,...mỗi lần nhắc nhở khán giả định cư
lâu năm ở nước ngoài mình có một quê gốc con Rồng cháu
Tiên. Làm sao quên được tiếng trống đình gịuc giã mỗi
sảng tinh sương khi có lễ tế vị Thần hoàng làng, hay tiếng
trống trường rộn rã mỗi ngày hai lượt kêu gọi học sinh.
Đối với riêng tôi, ấn tượng sâu đậm nhất là hôm đi
lễ chùa Songwangsa ở Hàn Quốc, tu viện đặc biệt đón nhận
tăng ni tứ xứ. Vào lúc chạn vạn, các vị sư trẻ xếp hàng
lần lượt ra tay múa nhảy đánh trống liên hồi kêu gọi
tu sĩ nhập thiền. Từ khắp các nẻo chùa, các thầy lặng
lẽ nối đuôi nhau đi vào thiền đường, không một lời nói,
không một tiếng động, có lẽ các vị đã bắt đầu nhập
định. Tiếng trống vừa dứt thì mặt trời cũng vừa lặn,
không còn một nhà sư nào ở ngoài sân, chính điện vừa lên
đèn sáng trưng như hòn ngọc bích nổi bật trong đêm tối.
Bầu không khí trở nên nghiêm trang, thanh thản và tuy đứng
ngoài, không nhập cuộc, tôi không khỏi rùng mình, tưởng
mình như ở trên đường bước vào một thế giới tâm linh
khác. Tôi còn muốn lưu lại ít lâu nữa để hưởng cho tận
cùng giây phút thần tiên, để gởi hồn vào thế giới hư
vô cực lạc nhưng những chú tiểu đã nhỏ nhẹ mời khách
ra về để khỏi quấy rầy sự yên tĩnh của các nhà sư đang
thiền định. Trong đầu tôi luôn còn lẫn vẫn những tiếng
trống dồn dập, rộn rã của nhà chùa
Thành
Xô mùa xuân 2016
Mừng
Tết Đinh Dậu 2017
|
|
(*)
Ảnh chụp tại chỗ, sao từ dương bản và mượn trên internet.
Tiếng trống
Đại nhạc
Tiếng trống
tướng quân
Xem thêm
- L. Besacier,
Asie
du Sud-Est, Le Viet-Nam, De la préhistoire à la fin de l’occupation
chinoise, Ed. A. et J. Picard, Paris 1972
-Dư Hồng
Phương, Trống trận Tây Sơn, Ðặc san Quang Trung - Tây
Sơn, Xuân Giáp Tuất 1994
-Việt Lâm,
Nhóm
Kodo : tiếng trống mang nhịp tim hoàn cẩu, thethaovanhoa.vn
29.08.2010
- Hồ Khuê,
Tiếng
trống Taiko, thanhnien.vn 03.01.2010
- CN, Châu
Á: Việt Nam – Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên disanthegioi.info02.04.2013
- Tuệ Diễm,
Đoàn
nhạc gõ có một không hai,hanoimoi.com.vn 16.06.2013
- PatrickMacgrath,
Danse
awa et tambour taiko : découverte avec le Tsunagari Taiko Center,journaldujapon.com
07.09.2013
- VLOS, Ý nghĩa
những hình vẽ trên bề mặt trống đồng Ngọc Lũ tusach.thuvienkhoahoc.com,
nghethuatxua.com 02.08. 2013
-Hoàng Kim - Vũ Anh,
Những
vở diễn để đời: Tiếng trống Mê Linh, thanhnien.vn
12.05.2014
- Bá
Phùng, Hồn dân tộc rền trong tiếng trống, baobinhdinh.com.vn19.04.2016
Chim Việt Cành Nam 66 04.12.2017