| Góp nhặt
sỏi đá
Theo Winfried Scharlau trong Những
ngày cuối cùng của Sài Gòn:
Bắc Việt thông qua tiếp xúc
với người Pháp đã đưa ra "Giải pháp Lào" để tạo cơ
hội cho một hội nghị bốn bên bàn thảo một trật tự chính
trị mới ở Nam Việt Nam (được Trung cộng hậu thuẫn).Jean-Marie
Merillon vào gặp đại diện Bắc Việt để tự mình thăm dò
cơ hội của một "chính phủ hòa bình Big Minh" qua sếp của
phái đoàn MTGPMN là Đại tá Võ Đông Giang.
Với đại sứ Mỹ Graham Martin,
trong ngày 28-4, tuy không có xác nhận từ phía bên kia, đại
sứ Martin vẫn còn hy vọng vào thoả hiệp đình chiến trong
ba ngày, và 30 ngày để thành lập chính phủ ba thành phần,
sau đó, Mỹ và những người thân Mỹ sẽ ra đi trong trật
tự.
Lạc đạn
Dựa vào nguồn ông Trần Văn
Đôn và ông Trần Văn Lắm: Ông Minh là người tin bói toán.
Thay vì lễ nhậm chức tổng
thống vào 9 giờ sáng ngày 28-4. Ông Minh nói "9 giờ sáng không
được tốt, bàn giao lúc 5 giờ rưỡi chiều".
Theo Tiziano Terzani tác giả cuốn
Giải
phóng!: Dương Văn Minh chọn hoa mai là Quốc huy VNCH...đó
là hình hoa mai năm cánh nằm trong dấu hiệu âm dương của
người Trung Hoa, tượng trưng cho hai yếu tố đối nghịch
tạo thành sự đồng nhất trong vũ trụ.
Tiziano Terzani kể lại: Sau khi
cựu Tổng Thống Trần Văn Hương trở về chỗ ngồi. Dương
Văn Minh vẫn ngồi yên không hề nhúc nhích.
Ông Dương Văn Minh ngồi yên
không nhúc nhích vì ông tin bói toán: Ông là tổng thống "Đệ
tam Cộng hoà" lâu dài chứ không phải làm tổng thống để
đầu hàng.
Dữ kiện với Quốc huy VNCH với
(...)
âm dương tượng trưng cho hai yếu tố đối nghịch tạo thành
sự đồng nhất (...). Thì ông có thể hoà hợp hoà giải
với MTGPMN trong chính phủ liên hiệp ba thành phần gồm MTGPMN,
phe trung lập và "Chính phủ hòa bình Big Minh".
Bên lề
trận chiến
Báo Quân đội nhân dân ngày
2-5-1975 đăng bài
"Sài Gòn trong những giờ phút
lịch sử" của Bùi Tín
Trong các hồi
ký và bài viết của mình kể từ khi tỵ nạn tại Pháp, Đại
tá Bùi Tín là sĩ quan cao cấp của Quân đội nhân dân Việt
Nam có mặt sớm nhất tại dinh Độc Lập, là người đi
cùng đơn vị xe tăng đầu tiên đâm đổ cổng dinh Độc Lập,
và là người trực tiếp chấp nhận tuyên bố đầu hàng
của ông Dương Văn Minh vào ngày 30-4-1975. Điều này lâu
nay đã được ghi nhận trong sách của các tác giả ngoại
quốc như Điệp viên hoàn hảo của Larry Berman và VietNam:
A History của Stanley Karnow, nhưng mâu thuẫn với lời kể
của các nhân chứng của sự kiện ngày 30-4-1975, trong
đó có lời kể do chính Bùi Tín viết ở trong nước năm
1975.
(Nguồn: BBC)
Sài Gòn trong những giờ phút
lịch sử
Gần đây Bộ tổng tham mưu quân
đội nhân dân ở Hà Nội đã mở hội nghị để viết lại
"Tài liệu lịch sử về ngày 30-4-1975", với ý định được
tuyên bố là "thuật lại thật chính xác những gì đã xảy
ra trong ngày hôm ấy tại dinh Độc Lập giữa Sài Gòn".
Thật đáng tiếc là tài liệu
được tạo nên có một số điều sai sự thật.
Là một người chứng kiến tại
chỗ, tôi buộc lòng phải lên tiếng. Tôi giữ thái độ trung
thực, tôn trọng sự thật đúng như nó có, không để ai khác
nhận vơ những điều chính tôi đã phát biểu. Trong tài liệu
nói trên của Bộ tổng tham mưu, không hề nói gì đến
chuyện tôi, Bùi Tín, lúc ấy là thượng tá QĐND,
là cán bộ cao cấp duy nhất chứng kiến sự đầu hàng của
nội các Dương Văn Minh vào buổi trưa và xế chiều ngày 30-4-1975
tại dinh Độc Lập.
Tôi không hề có ý tranh dành
tiếng tăm trong thời điểm lịch sử này. Việc tranh dành
công trạng là điều tôi coi là đáng sỉ nhục. Nhưng lịch
sử là lịch sử. Sự thật lịch sử cần tôn trọng tuyệt
đối. Nói sai lịch sử về một số chi tiết có thể gây
nghi ngờ về nhiều điều lớn hơn.
Do có những nhận định mang
tính chất vu cáo là tôi đã tự nhận là người nhận đầu
hàng của tướng Dương Văn Minh, thậm chí cho là tôi không
hề có mặt ngày 30-4 ở dinh Độc Lập, nên tôi thấy cần
nói rõ sự thật chân thực là như sau:
- Tôi đến dinh Độc Lập cùng
Trung tá Nguyễn Trần Thiết (1), phóng
viên ban biên tập quân sự của báo QĐND lúc 12 giờ rưỡi
(3
& 4) trưa ngày 30-4-1975, sau khi đoàn cơ giới của
Lữ đoàn xe tăng 202 của Quân đoàn 2 đột nhập vào trong
sân.
Tôi và trung tá Thiết ra ngoài
cổng dinh tìm chỗ ngồi viết bài tường thuật để gửi
gấp về Hà Nội, vì biết rằng ngoài tòa soạn đang mong chờ
cho số báo in ngay tối nay. Tôi đang viết bài thì Trung tá
Bùi Văn Tùng, chính ủy Lữ đoàn 202 và
Trung tá Nguyễn Văn Hân, trưởng ban bảo vệ của Quân đoàn
2 đến yêu cầu tôi vào gặp nội các Dương Văn Minh. Tôi
từ chối vì tôi không được giao trách nhiệm, lại đang lo
viết bài báo. Tôi trả lời: "Các anh nên đưa 1, 2 người
ra đài phát thanh để công bố tin toàn thắng để cả nước
và thế giới biết". Sau này gặp lại anh Tùng, tôi mới biết
2 anh trung tá ấy cùng nghĩ rằng cấp trung tá chỉ là cán
bộ trung cấp, nên việc làm không đủ giá trị theo quân phong
quân kỷ. Họ cần ý kiến một cán bộ cao cấp, mà lúc ấy
không có một ai khác là tôi, họ biết tôi là cấp thượng
tá, phó tổng biên tập báo QĐND.
(Bùi Tín viết riêng cho VOA để
"hiệu đính" nhân ngày 30-4-2010)
(1) Sau
này ...Viện lịch sử quân sự viết lại những dữ kiện
lịch sử về ngày 30-4 trong dinh Độc Lập. Theo bài viết năm
1985 của nhà báo Nguyễn Trần Thiết, đồng nghiệp của ông
Bùi Tín cũng đã...viết lại: Khi ông Dương Văn Minh đọc
tuyên bố đầu hàng trên đài phát thanh thì ...nhà báo Bùi
Tín còn đang ở Sở chỉ huy Quân đoàn 3 đóng tại Củ Chi.
(2)Trong
hồi ký của mình, Thiếu tướng Nguyễn Công Trang khẳng định
Bùi
Tín chỉ tới dinh Độc Lập lúc 2 giờ 15, sau khi ông Dương
Văn Minh từ đài phát thanh trở về.
(3)Lữ
đoàn xe tăng 202 của Quân đoàn 2 vào dinh Độc lập 11 giờ
30.
Giây phút
hấp hối của VNCH
Cuộc di tản của Mỹ chấm dứt
vào lúc tôi đang ngủ. Vũ Thành An bước vào CLB đã vội loan
báo: Xong hồ sơ rồi ông ơi. An không hút thuốc lá, nhưng
hôm ấy anh phì phèo điếu thuốc.
Tôi nói đùa với anh: Chẳng
qua cũng là bài không tên cuối cùng thôi.
Chúng tôi uống cà phê, ăn mì
gói, và hút thuốc...
Chữ nghĩa
của một thời chinh chiến
trong quán
cà phê
Trước 75,
miền Nam có những câu "thành ngữ"
về thuốc
lá xuất xứ từ quán cà phê, như:
Capstan :
Chiếc
áo phong sương tự áo nàng
Đến khoảng 9 giờ 30 vừa định
vào phòng tin tức thì thư ký trực hốt hoảng chạy từ trên
lầu xuống: Ông ơi, văn phòng tổng thống điện thoại xin
cử người sang thâu băng hiệu triệu. Tôi chỉ định Lê Phú
Bổn và một kỹ thuật viên là anh Hồ Ổn sang phủ thủ tướng,
số 7 đường Thống Nhất, Tổng thống Dương Văn Minh và nội
các chờ họ ở đó. Anh Bổn thu thanh mang vào đài vài phút
trước 10 giờ sáng và chuyển lệnh của tổng thống: Ðầu
hàng rồi. Anh cho phát ngay, không cần hoàn chỉnh. Tôi đưa
cuốn băng cho Vũ Thành An. Nội dung cuốn băng chỉ dài chưa
đầy 5 phút, trong đó Tổng thống Dương Văn Minh kêu gọi
quân nhân, cảnh sát và các lực lượng bán quân sự "giữ
vị trí, buông súng để bàn giao chính quyền trong vòng trật
tự".
(Vũ Ánh)
Sài Gòn trong những giờ phút
lịch sử
Ngay sau đó, Trung tá Bùi Văn
Tùng đưa ông Minh ra đài phát thanh Sài Gòn để loan tin đầu
hàng trong vòng nửa tiếng. Trong khi ấy tôi cũng đã viết
gần xong bài báo. Tôi còn nhớ trung tá Thiết mở hộc bàn
giấy của tổng thống lấy ra tờ giấy cứng in thực đơn
cho tổng thống vào trưa 30-4-1975 (1),
trên đó có 2 món chính là: "gân bò hầm sâm" và "cá thu kho
mía", đưa cho tôi xem để ghi thêm trong bài báo cho sinh động.
Hai trung tá Tùng và Hân lại
khẩn khoản nói với tôi: Họ đang ngồi chờ trong kia, chừng
30 người, các ông tướng chưa ai vô, anh vào gặp họ đi,
để họ chờ lâu không tiện.
Anh Thiết bàn với tôi: Anh vào
gặp họ đi, ta cùng vào rồi sẽ viết thêm vài chi tiết,
sau ta sẽ vào trại Davis-Tân Sơn Nhất, nhờ tổ thông tin đánh
bài báo ra Tổng cục chính trị. Trung tá Hân dẫn 2 chúng tôi
vào phòng họp lớn. Anh Hân, trên cương vị trưởng ban bảo
vệ quân đoàn hiện là người sắp xếp trật tự của dinh
Độc Lập. Anh vào trước, báo tin: Tất cả đứng dậy! Sắp
có một cán bộ cao cấp QĐND vào gặp các ông. Tôi và anh
Thiết bước vào. Phòng khách rộng lớn, ghế ngồi lót dạ
đỏ, trên bàn có những cốc nước và mấy hộp hạt đào
lộn hột. Anh Thiết ghi tên cả 28 người có mặt, từ các
ông Dương Văn Minh, Vũ Văn Mẫu, Nguyễn Văn Huyền (?)
đến
các ông Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Hữu Có, Bùi Tường Chiểu,
Nguyễn Hữu Hạnh (?), v...v...
Vừa lúc ấy, trung tá Hân đón
tổ quay phim quân giải phóng vào. Ông Minh bước tới trước,
nói chậm rải: Thưa quý ông! Chúng tôi chờ quý ông từ buổi
sáng đặng chuyển giao chính quyền.
Tôi đáp: Các ông còn có gì
mà bàn giao, không thể bàn giao khi trong tay không còn có gì!
Tôi không nói gì đến chuyện
đầu hàng vì 2 trung tá Tùng và Hân đã cho tôi biết ông Minh
vừa tuyên bố đầu hàng ở đài phát thanh. Ý tôi muốn nói
là không thể có chuyện bàn giao chính quyền, vì tình hình
đã ngả ngũ xong xuôi.
(...)
(1) Ông
Nguyễn Văn Thiệu đã đi Đài Bắc từ ngày...25-5-1975.
Lạc đạn
1975 tháng 4, Đại thắng mùa
xuân. Như tên hồi ký Văn Tiến Dũng viết. Và cho tướng
Giáp ra rìa đại tiệc. Báo Nhân Dân dành hai trang đăng bài
Bùi Tín tường thuật "giải phóng Sài Gòn."
Xem đến đoạn Bùi Tín vào dinh
Độc Lập mở tủ lạnh xem "chúng nó" ăn những gì, tôi không
đọc nữa. Kiểm kê sự ăn uống của tư sản, địa chủ
vốn nằm quen thuộc trong cẩm nang phát động quần chúng căm
thù bọn bóc lột. Tức là bấm vào cái huyệt ghen ăn tức
ở. Mở trí khôn cho quần chúng ở cái điểm này mới quý
đây!
Bỏ báo xuống là một phản
ứng buồn. Chính chúng tôi thua. Với thân phận kẻ bị đàn
áp, rất bản năng tôi đứng ngay vào phía bà con đại bại
trong Nam.
(Đèn cù - Trần Đỉnh)
30-4-1975, Dương Văn Minh và
tôi
Anh em sinh viên đã cùng bộ đội
chiếm giữ đài rồi nhưng không vận hành được cũng như
không biết phát đi nội dung gì. Chúng tôi tìm được anh Trần
Văn Bảng kỹ thuật viên phát thanh vận hành lại đài, còn
nhà báo Đức thì cho mượn chiếc cát xết thu lời đầu hàng
của tướng Minh và lời chấp nhận đầu hàng của chính ủy
Bùi văn Tùng, do chính ông Tùng soạn thảo.
Tướng Minh nhìn thấy tôi
trong đám người này có vẻ cũng yên lòng (!).
Trông ông mệt mõi và không mấy vui. Thân hình ông vẫn to
lớn nhưng mặt ông hơi hốc hác. Sau này tôi mới biết là
ông và bộ tham mưu từ mấy ngày qua đã quyết định đầu
hàng dẫu có bị đối xử không tương xứng của phía đối
nghịch. Có lẽ ông chưa bao giờ thành công trong hoạt động
chính trị. Ông chỉ là nhân vật cần thiết của tình thế
nhưng không nắm được quyền lâu dài.
Tôi nhìn sang Giáo sư Vũ Văn
Mẫu, ông có vẻ bình thản trong bộ complê màu xanh nhạt luôn
chỉnh tề của một nhà giáo đại học. Tuy xuất thân trong
gia đình quan lại miền Bắc và di cư vào Nam năm 1954, khi nổ
ra vụ tranh đấu Phật giáo năm 1963, đang giữ chức vụ Bộ
trưởng ngoại giao VNCH, ông từ nhiệm và cạo trọc đầu
phản kháng Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo. Nay ra lãnh chức
vụ thủ tướng tôi nghĩ ông sẽ đem lại hòa bình, hòa hợp
hòa giải thật sự cho dân tộc.
Loay hoay đến gần hai giờ chiều
chúng tôi mới phát đi được tiếng nói cách mạng đầu tiên
trên đài phát thanh Sài Gòn. Nguyên văn tiếng nói mở đầu
của tôi...
(...)
Giây phút
hấp hối của VNCH
Nhưng cuốn băng chỉ phát được
một lần vào lúc 10 giờ 15 phút sáng 30-4-1975. Lê Phú Bổn
vừa ra khỏi đài thì tướng Nguyễn Hữu Hạnh, tổng tham
mưu trưởng quân đội, vị tổng tham mưu trưởng thứ ba trong
vòng hơn 1 ngày rưỡi. Ông từ phủ thủ tướng sang đài phát
thanh sau khi đã ghé qua đài truyền hình. Tôi đón ông ở cổng.
Tướng Hạnh nói ông sang tiếp nhận đài để trao cho phía
"cách mạng". Còn đang nói chuyện với tướng Hạnh thì một
đoàn xe trờ tới.
Khi chiếc Mercedes đen ngừng lại
ở cổng ngoài, tôi thấy một người mặc quân phục tác chiến
mầu cỏ úa của bộ đội Bắc Việt, súng lục cầm trong
tay, tiếp theo là Tổng thống Dương Văn Minh, và một người
khác cũng mặc quân phục mầu cỏ úa, cũng súng lục cầm
tay. Tổng thống Dương Văn Minh đi giữa hai người này, phía
sau có nhiều cán binh mang AK47.
Rồi đến những chiếc xe jeep
lùn khác của quân đội VNCH cũng đến đậu trước đài phát
thanh. Từ trên xe bước xuống là một đám thanh niên, thiếu
nữ, trang phục dân sự nhưng trên tay phải của mỗi người
đều có đeo băng đỏ. Tôi nhận ra ngay Lê Văn Nuôi, Huỳnh
Tấn Mẫm, Cao Thị Quế Hương, Nguyễn Hữu Thái, Tôn Thất
Lập... Tôi cũng thấy vài phóng viên nước ngoài, trong đó
có George Asper, trưởng văn phòng AP tại Sài Gòn, và hai thu
hình viên của phía Bắc Việt.
Ông Hạnh yêu cầu tôi lên phòng
phát thanh trước, tướng Hạnh yêu cầu mở cửa phòng vi âm
lúc đó đang đóng vì không phải là giờ đọc tin. Viên sĩ
quan đi bên cạnh ông Minh lớn tiếng yêu cầu mọi người
bình tĩnh, không được kháng cự vì kháng cự cũng vô ích.
Ông ta nói...
(...)
30-4-1975, Dương Văn Minh và
tôi
Nguyên văn tiếng nói mở đầu
của tôi:
Chúng tôi là những người
đại diện cho Ủy ban nhân dân cách mạng Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia
Định. Chúng tôi là những người đầu tiên tới dinh Độc
Lập trước 12 giờ và đã cùng anh em quân đội giải phóng
cắm cờ trên dinh Độc Lập. Chúng tôi là giáo sư Huỳnh Văn
Tòng và cựu chủ tịch Tổng hội sinh viên Sài Gòn Nguyễn
Hữu Thái... Đời sống bình thường đã trở lại Sài Gòn
- Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố mà bác Hồ đã mong đợi,
nay đã được giải phóng... Xin giới thiệu lời kêu gọi
của ông Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu của chính quyền Sài
Gòn về vấn đề đầu hàng ở thành phố này...
Đại tướng Dương Văn Minh đọc
lời đầu hàng theo bản văn do Bùi Văn Tùng soạn thảo:
Tôi, Đại tướng Dương Văn
Minh, Tổng thống chính quyền Sài Gòn, kêu gọi Quân lực Việt
Nam Cộng hòa hạ vũ khí đầu hàng không điều kiện quân
Giải phóng miền Nam Việt Nam. Tôi tuyên bố chính quyền Sài
Gòn từ trung ương đến địa phương phải giải tán hoàn
toàn. Từ trung ương đến địa phương trao lại cho Chính phủ
cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam.
Giáo sư Vũ Văn Mẫu phát biểu
trực tiếp:
"Trong tinh thần hòa giải và
hòa hợp dân tộc, tôi, Giáo sư Vũ Văn Mẫu, thủ tướng,
kêu gọi tất cả các tầng lớp đồng bào hãy vui vẻ chào
mừng ngày hòa bình của dân tộc, và trở lại sinh hoạt bình
thường. Chuyên viên của các cơ quan hành chính quay trở về
vị trí cũ dưới sự hướng dẫn của chính quyền cách mạng.
Tiếp đó là lời chính ủy Bùi
Văn Tùng:
Chúng tôi đại diện lực
lượng quân Giải phóng miền Nam Việt Nam long trọng tuyên
bố thành phố Sài Gòn đã được giải phóng hoàn toàn, chấp
nhận sự đầu hàng không điều kiện của ông Dương Văn
Minh, tổng thống chính quyền Sài Gòn.
(Nguyễn Hữu Thái)
Giây phút
hấp hối của VNCH
Ông ta nói: Tổng Thống của
các ông đã bị bắt.
Và quay lại đẩy Big Minh vào
phòng vi âm và nói tiếp: Các anh thua rồi, phải tuyên bố
đầu hàng vô điều kiện chứ còn gì nữa mà bàn giao.
Cuốn băng thứ hai mà dân chúng
miền Nam được nghe từ 1 giờ ngày 30-4-1975 trở đi chỉ khác
cuốn băng đâu tiên ở điểm "đầu hàng vô điều kiện"
thay vì "bàn giao chính quyền trong vòng trật tự". Sau đó tôi
hỏi tướng Hạnh: Tôi có thể ra khỏi đài được chứ?.
Ông Hạnh nói: Anh hãy về nhà
ngồi đợi lệnh của Ủy ban quân quản.
Tôi bước xuống cầu thang thì
phóng viên Yến Tuyết từ phòng làm việc chạy ra. Vừa ra
đến cổng thì thấy xe của Thiếu tá Nguyễn Văn Thăng do
tài xế Ðường lái chạy vào. Trên xe có cả vợ ông Thăng,
chắc họ không kiếm được chỗ đi. Ông Thăng còn mặc bộ
đồ bốn túi bằng vải ka-khi vàng. Tôi nói: Họ đầy ra ở
trên đó, thiếu tá còn vào đây làm gì, quay xe ra ngay đi.
Ðường thấy vậy mở cửa xe và đẩy vội tôi và Yến Tuyết
lên, vọt nhanh ra khỏi cổng.
Ra đến đường Hồng Thập Tự,
Ðường quay lại hỏi: Ði đâu ông?.
Tôi lắc đầu và không nói gì
nữa. Vì "phim" đã cháy thực sự.
(Vũ Ánh)
Góp nhặt...ghi
chép...
Nam Nguyên:
Thưa
ông làn sóng phát thanh quốc gia duy trì cho đến lúc nào?
Vũ Ánh: Điều
chắc chắn, ở đây còn rất nhiều nhân chứng.Tôi
thấy quyển Đại thắng mùa xuân của ông Văn Tiến
Dũng viết hết sức cẩu thả và dựng đứng nhiều chi tiết,
có những chi tiết sai không thể chấp nhận được. Chẳng
hạn ông ta viết bộ đội của ông vào đài phát thanh Sài
Gòn, lúc đó đài bỏ hoang không còn ai. Điều này hoàn toàn
sai. Nên nhớ rằng người ta không thể chế ra lịch sử được,
lịch sử có giá trị của nó bởi vì quan trọng nhất là
sự thật, bởi vì tôi tin tưởng là lịch sử có tiếng nói
riêng của nó. Và không ai có thể bóp méo tiếng nói của
lịch sử. Lịch sử ngày 30-4 đã bị xuyên tạc.
- :Cuốn
băng đầu phát đi lời đầu hàng của tổng thống Dương
Văn Minh được một lần vào lúc 10 giờ 15 phút sáng 30-4-1975.
11 giờ kém 15, Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh sang nhận đài
để giao cho phía bên kia. 11 giờ, tôi rời đài phát thanh Sài
Gòn. Nhưng tiếng nói quốc gia VNCH vẫn còn, Vì sau đó khi
phát lệnh đầu hàng văn bản lần thứ hai của tổng thống
Dương Văn Minh thu tại đài phát thanh Sài Gòn. Cuốn băng thứ
hai mà dân chúng miền Nam được nghe từ 1 giờ trưa ngày 30-4-1975
chỉ khác cuốn băng trước là "đầu hàng vô điều kiện".
Thì lúc đó mới chấm dứt tiếng nói của quốc gia VNCH. (Vũ
Ánh)
- :Loay
hoay đến gần 2 giờ (?) chúng tôi
mới phát đi được tiếng nói cách mạng đầu tiên trên đài
phát thanh Sài Gòn (...) cho đến 4 giờ chiều thì giao
lại cho nhóm anh em sinh viên đại học Khoa học Sài Gòn.
(Nguyễn Hữu Thái)
Góp nhặt
sỏi đá
Trở lại với nhà sử học người
Hy Lạp Halikamasseus sống ở thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên.
Trong tác phẩm Historical, ông đi đến nhiều nơi để ghi nhận
những chuyện được gọi là trung thực của vùng Địa Trung
Hải mà nhiều sử gia thời ấy đề cao vì cho rằng sự kiện
lịch sử mang tính chất khách quan nhất và trung thực nhất.
Đúc kết lại ông tìm thấy những sử gia đều..."ngu xuẩn"
và là những..."ông tổ nói láo". Qua tác phẩm Historical, ông
viết chữ nghĩa sử học hơn: "Lịch sử là gì? lịch sử
là chuyện kể của kẻ chiến thắng!".
- : Tiếng
Hy Lạp tiên khởi "Historical" có nghĩa là phát hiện và thu
thập....
Quân sử ngoại truyện
Cuộc Tổng tiến công và nổi
dậy mùa Xuân năm 1975 diễn ra trong 55 ngày đêm với tốc độ
thần kỳ "một ngày bằng 20 năm". Ngày 30-4, nhìn lên bản
đồ tác chiến, năm cánh quân ta như năm bông sen tung ra từ
5 mục tiêu tiến công:
- Quân đoàn 1 đánh thẳng vào
cổng chính Bộ tổng tham mưu (1)
địch
nhưng không gặp kháng cự nào đáng kể. Vì cổng chính đã
mở và sĩ quan, binh lính địch nhảy qua mọi vật chướng
ngại, kể cả dây thép gai và bãi mìn để chạy.
- Quân đoàn 2 tiến công vào
"Dinh Độc Lập" nơi bọn đầu sỏ tay sai Mỹ bán "độc lập",
buôn máu người và buôn lậu. Bộ đội ta xông lên gác bắt
tại chỗ toàn bộ "nội các" kể cả "tổng thống" ngụỵ
Bộ đội ta linh hoạt treo cờ cách mạng tung bay trên "Dinh
Độc Lập". Lúc ấy là 11 giờ 30 phút ngày 30-4. Tại Sở chỉ
huy mặt trận, tôi mở máy thu thanh để nghe. Tiếng của "tổng
thống" ngụy quyền nói xin hạ vũ khí đầu hàng quân ta không
điều kiện.
- Quân đoàn 3 đánh sân bay Tân
Sơn Nhất (2)từ
8 giờ đến 8 giờ 30 phút. Pháo ta bắn cấp thấp vào sân
bay, lửa khói bốc ngút trời. Tiếng pháo vừa dứt, xe tăng
nhanh chóng xông lên chiếm ngã tư Bảy Hiền, thừa thắng phát
triển vào cổng số 5 của sân bay. Chuyện kỳ thú là gặp
Phái đoàn quân sự của ta ở trại Davis tại đây. Một cảnh
gặp nhau lý thú và xúc động.
- Quân đoàn 4 dùng xe tăng, xe
bọc thép đánh thẳng vào đài phát thanh (3)
Sài
Gòn lúc 2 giờ trưa. Đơn vị ta nhất trí nếu chỗ nào
địch chống cự thì lập tức tiêu diệt ngay. Nhưng ta không
gặp kháng cự nào vì đài phát thanh bỏ trống, không có
ai.
(Đại thắng mùa xuân - Chương
17: Chương cuối cùng)
Phát hiện và thu thập
(1) Trung
đoàn 28 thuộc Quân đoàn 3 tấn công Bộ tổng tham mưu.
(2)Trung
đoàn 24 Bộ binh, Trung đoàn 273 Thiết giáp, Trung đoàn 234 Cao
xạ thuộc Quân đoàn 3 đánh cổng cửa số 4 và số 5,
Tân Sơn Nhất. Tiểu đoàn 6 đã kéo được lá cờ Quyết thắng
của sư đoàn lên đỉnh lầu chỉ huy không lưu.
(Nguồn: Ngày 29 và 30 tháng Tư
của 34 năm về trước – Bảo Ninh)
(3) 12
giờ 30 ngày 30-4-1975, Đại đội 7, Sư đoàn 7 thuộc Quân đoàn
4 tiến theo đường Hồng Thập Tự, quẹo qua đại lộ Thống
Nhất, tới thẳng dinh Độc Lập.
(Trò chuyện với VnExpress
- Hoàng Cầm)
- :
Không thấy Hoàng Cầm nói gì đến Quân đoàn 4 đánh đài
phát thanh?
Quân sử ngoại truyện
Vào dịp kỷ niệm 25 năm ngày
"Giải phóng miền Nam" (1975-2000), Nhà xuất bản chính trị
quốc gia cho ra mắt cuốn hồi ức: Tổng hành dinh trong mùa
Xuân toàn thắng của tướng Võ Nguyên Giáp. Trong
chương IX mang tên "Chiến dịch Hồ Chí Minh" viết:
Trước tấm bản đồ thành phố
Sài Gòn-Gia Định, mọi người đứng dậy, chăm chú nhìn theo
hướng tay tôi chỉ. Mọi người vây quanh tấm bản đồ chiến
sự.
Năm cánh quân của ta hợp điểm
giữa Sài Gòn. Quân đoàn 2 sẽ chiếm dinh tổng thống. Quân
đoàn 4 sẽ chiêm đài phát thanh. Quân đoàn 1 sẽ chiếm Bộ
tổng tham mưu. Quân đoàn 3 sẽ chiếm sân bay Tân Sơn Nhất.
Đoàn 232 sẽ chiếm Biệt khu thủ đô và Tổng nha cảnh sát.
: -
Võ Nguyên Giáp cho Tổng hành dinh trong mùa Xuân toàn thắng
ra
mắt năm 2000. Khi ấy Văn Tiến Dũng đang nằm chờ chết trong
bệnh viện Bạch Mai (Văn Tiến Dũng chết năm 2002)
Phát hiện và thu thập
Hồi mới giải phóng tôi rất
ngạc nhiên khi đọc sách Đại thắng mùa Xuân của tướng
Văn Tiến Dũng (...). Năm 2000, đọc sách Đại thắng mùa
xuân ở Tổng hành dinh của Đại tướng Võ Nguyễn Giáp,
tôi mới hay tướng Giáp là người tổng chỉ huy toàn bộ
cuộc tổng tiến công mùa xuân năm 1975. Đại tướng đã đề
xuất Bộ chính trị quyết định mở Chiến dịch Hồ Chí
Minh và cử Đại tướng Văn Tiến Dũng làm tư lệnh, các tướng
Lê Trọng Tấn, Lê Đức Anh, Trần Văn Trà làm phó tư lệnh,
chỉ huy 5 cánh quân gồm 20 sư đoàn giải phóng Sài Gòn. (...)
(...) Cỏ làm sao che được mặt
trời ". Cứ đọc sách Bên thắng cuộc của nhà báo
Huy Đức ( Phần 2: Quyền bính, chương 15) thì sẽ rõ hơn những
điều tôi đã viết. (...)
(Vì sao tôi viết "Tướng Giáp
trong tôi?" – Ngô Minh)
Sài Gòn trong những giờ phút
lịch sử
Trong tài liệu chính thức của
Bộ tổng tham mưu, các câu nói của tôi trên đây được
đặt trong miệng Trung tá Bùi Văn Tùng. Tôi khá thân với
anh Tùng, từng ghé thăm 2 vợ chồng anh. Tôi tin là anh Tùng
sẽ có thể đến lúc không ngại gì nói rõ sự thật đầy
đủ. Có những nhân chứng còn sống, về những lời nói của
tôi trưa hôm ấy, như các ông Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Hữu
Có, Nguyễn Hữu Hạnh (?)...Sự
thật là hoàn cảnh ngẫu nhiên đưa đẩy để tôi là cán
bộ cấp cao duy nhất của QĐND có mặt tại dinh Độc Lập
trong khoảng thời gian từ 12 giờ đến 16 giờ
chiều 30-4-1975 để chứng kiến và chút ít tham gia sự kiện
lịch sử này.
(...)
Sở dĩ một số báo nước ngoài
cứ nói phóng lên là tôi là người nhận đầu hàng của tướng
Minh là vì tướng Trần Văn Trà, chủ tịch Ủy ban quân quản
Sài Gòn hồi tháng 9-1975 có lần giới thiệu tôi với các
nhà báo Nhật, Pháp...: Đây là nhà báo, sỹ quan cao cấp nhất
chứng kiến sự đầu hàng của chính quyền Sài Gòn.
Rõ ràng "chứng kiến" và "nhận"
là 2 điều khác nhau.
Từ đó, có thể có người hiểu
lầm cho rằng tôi là người nhận đầu hàng. Cũng có thể
có người hiểu sai, cho rằng khi tôi nói "không còn gì để
bàn giao" thì cũng có nghĩa là tôi đòi họ phải đầu hàng
tôi! Tôi không bao giờ nhận một điều gì không phải của
mình, không do mình làm.
(Bùi Tín viết riêng cho VOA để
"hiệu đính" nhân ngày 30-4-2010)
Quân sử ngoại truyện
Qua "Sài Gòn trong những giờ
phút lịch sử" ngày 2-5-1975 trên báo Quân đội nhân dân. Ông
Bùi Tín với quân hàm "đại tá". Trong bài viết lại cho đài
VOA nhân ngày 30-4-2010, ông Bùi Tín với quân hàm mới là..."thượng
tá". Vì theo ông Nguyễn Công Trang:
Về "quân hàm đại tá" tại
thời điểm 30-4-1975, Thiếu tướng Nguyễn Công Trang của quân
đội nhân dân khẳng định vào thời điểm đó Bùi Tín chỉ
mang quân hàm...Thượng tá.
Qua bài viết riêng để "hiệu
đính" cho VOA, ông Bùi Tín tự chú thích để...hiệu đính:
(...) Cần nói
rõ thêm để các bạn ở ngoài quân đội biết là giữa trung
tá và thượng tá là khác không chỉ một cấp, mà khác hẳn
một bậc. Cán bộ sơ cấp từ thiếu uý lên đại úy là bậc
sơ cấp, từ thiếu tá và trung tá là bậc trung cấp, từ thượng
tá lên cấp tướng là bậc cao cấp.
Phân biệt 3 cấp ấy rất rõ,
khác hẳn nhau, từ bếp ăn, phòng ngủ, nhà ở, quân phục,
tiền lương, sổ mua hàng, lớp học, trường học, hội nghị,
tài liệu đều phân biệt rõ. (...)
- :
Theo truyền thống Hồng quân Trung Quốc, quân hàm và cấp bậc
theo "tứ chế":
Thiếu – Trung – Thượng –
Đại.
Góp nhặt
sỏi đá
Cho đến nay có nhiều nguồn
về sự kiện Bắc Việt tiếp nhận sự đầu hàng của
chính quyền Sài Gòn. Các tài liệu của Việt Nam trong
nhiều năm và các sách nước ngoài ghi rằng người tiếp
nhận sự bàn giao từ tay Đại tướng Dương Văn Minh là
Đại tá Bùi Tín.
Sau này có nguồn từ sách trong
nước nhấn mạnh đến vai trò của Trung tá Bùi Văn Tùng
trong những giờ lịch sử tại dinh Độc Lập. Theo bản
tin của AFP đánh đi từ Sài Gòn ngày 29-4-2000 thì ông Tùng
cho AFP biết chính ông mới là người tiếp quản chính
quyền Sài Gòn tại dinh Độc Lập ngày 30-4-1975 từ tay
Dương Văn Minh chứ không phải...ông Bùi Tín. Ông Tùng (1)
còn lên án việc ông Tín trở thành người phê phán
đảng cộng sản Việt Nam ở Paris.
AFP có vẻ như không tin câu
chuyện của ông Bùi Văn Tùng, khi ấy đã là đại tá,
nên chạy tựa cho bản tin là "Việt Nam viết lại lịch
sử để bác bỏ vai trò của một nhân vật bất đồng
chính kiến". (nguyên văn tiếng Pháp: Le Vietnam réécrit son
histoire pour nier le rôle d'un dissident).
Còn bài trên tờ VietNam Net
ở trong nước vào năm 2000 thì người gặp tướng Minh để
tiếp quản sự đầu hàng lại là...ông Phạm Xuân Thệ.
(Nguồn: BBC)
Dinh Độc
Lập 11 giờ 15 phút
Trung uý trung đoàn phó trung đoàn
Bộ binh 66 Phạm Xuân Thệ là viên chỉ huy đầu tiên
"làm việc" với Tổng thống Dương Văn Minh. Giống như Bùi
Quang Thận trong khoảnh khắc đầu tiên, Phạm Xuân Thệ cũng
hơi ngỡ ngàng và chưa biết phải làm gì: Tôi chỉ được
giao nhiệm vụ chiếm dinh Độc Lập. Việc của tôi là kiểm
soát tòa nhà và cho anh em lên cắm cờ. Làm việc gì và làm
như thế nào với tổng thống và nội các này đây? Ông Thệ
nhớ lại.
Tổng thống Dương Văn Minh thông
báo đã tuyên bố ngừng bắn và đang chuẩn bị tiến hành
bàn giao chính quyền cho Chính phủ cách mạng lâm thời cộng
hòa miền Nam Việt Nam. Phạm Xuân Thệ không chấp nhận chuyện
"bàn giao" mà tuyên bố: Phải đầu hàng! Trung úy Phùng Bá
Đam cùng các sĩ quan bộ binh đã bàn với Phạm Xuân Thệ là
cho tuyên bố đầu hàng ngay tại dinh. Nhưng đường dây từ
dinh Độc Lập ra đài phát thanh không hoạt động được nữa
do nhân viên đài lúc ấy đã "biến" hết. Phải ra đài phát
thanh!
Ngay lúc đó, Trung tá chính ủy
lữ đoàn xe tăng 203 Bùi Văn Tùng xuất hiện. Các sĩ
quan biệt động đặc công đưa ông vào gặp Tổng thống Dương
Văn Minh. Trung tá Bùi Văn Tùng cũng bác bỏ lời đề nghị
bàn giao chính quyền và tuyên bố giải pháp duy nhất là phải
đầu hàng.
(Nguồn: TT)
Góp nhặt...ghi
chép...
Ngày 19-10-2005,
tại thành phố Sài Gòn, Viện lịch sử quân sự đã tổ chức:
"Tọa đàm khoa học xung quanh sự kiện đánh chiếm dinh Độc
Lập ngày 30-4- 1975″ nhưng không mời các nhân chứng có mặt
trong dinh và đài phát thanh tại thời điểm trưa 30-4-1975,
không mời các cán bộ, chiến sỹ của Lữ đoàn tăng 203.
Ngày 17-1-2006,
Viện lịch sử quân sự đã đưa ra kết luận: "Tại đài
phát thanh đồng chí Trung úy (1) Phạm
Xuân Thệ cùng
các cán bộ, chiến sỹ Trung đoàn 66 tổ chức soạn thảo
lời tuyên bố đầu hàng cho Dương Văn Minh. Văn bản đang
được soạn thảo thì Trung tá (2)
Bùi
Văn Tùng, chính ủy Lữ đoàn tăng 203 xuất hiện. Từ đó,
bộ phận cán bộ đồng chí Phạm Xuân Thệ, chiến sĩ Trung
đoàn 66 dưới sự chỉ đạo của đồng chí Bùi Văn Tùng,
đồng
chí Phạm Xuân Thệ tiếp tục soạn thảo và hoàn chỉnh lời
tuyên bố đầu hàng".
(1) Giữa
năm 1985, Trung úy Phạm Xuân Thệ mang quân hàm thiếu tướng.
(2) Trung
tá Bùi Văn Tùng nay là..."đại tá".
Dinh Độc
Lập 11 giờ 15 phút
Bùi Quang Thận kể: (...) Tiêu
diệt xong căn cứ Nước Trong, 9 giờ sáng ngày 30-4, Đại đội
4 xe tăng chúng tôi quyết định vượt cầu tiến vào thành
phố. Khi đến dinh Độc Lập thấy cổng đóng, tôi ra lệnh
cho pháo thủ nhắm giữa cổng dinh Độc Lập khai hỏa. Không
hiểu sao đạn không nổ? Hai lần như vậy, tôi ra lệnh quay
nòng pháo ra sau để cho xe húc đổ cổng. Trong 10 phút phải
húc 3 lần thì cánh cổng trái mới bung ra. Ngay lúc đó xe tăng
390 do anh Vũ Đăng Toàn, chính trị viên chỉ huy lao vào húc
đổ cổng chính. Thế là cả hai xe đều tiến vào bên trong.
Từ chiếc xe tăng 390, chính trị
viên đại đội Vũ Đăng Toàn nhảy xuống. Tôi và anh Toàn
chạy lên thềm dinh trong tư thế được mô tả là sẵng sàng
chiến đấu. Trung úy Toàn tay lăm lăm khẩu AK hỏi: Tổng thống
ở đâu?. Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh đáp: Để
tôi đưa tổng thống ra gặp các ông. Lúc này Tổng thống
Dương Văn Minh đang ngồi sau phòng khánh tiết. Có hai người
bước ra. Tôi thấy một người dáng cao to, nước da ngăm đen,
tóc hoa râm, mặc áo cộc tay bước ra. Đó là Tổng thống
Dương Văn Minh. Người còn lại là Thủ tướng Vũ Văn Mẫu.
Lập tức, trung úy Vũ Đăng Toàn
có nhiệm vụ trấn áp nội các, pháo thủ số 1 xe 390 canh
chừng ngoài phòng. Còn tôi có nhiệm vụ lên nóc dinh để
cắm cờ". (...) (Dương Tùng & Huy Đức)
Góp nhặt...ghi
chép...
Ngay sau khi
công bố: Kết luận của Viện lịch sử quân sử đã bị
ông Bùi Văn Tùng, các sỹ quan, chiến sỹ trên xe tăng 390 và
Kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thái phản đối trên 2 số báo Xưa
& Nay.
Dinh Độc
Lập 11 giờ 15 phút
Bùi Quang Thận nhớ anh cũng hơi
lo lo khi nhìn thấy bên trong có người mặc quân phục...như
mình. Có thể vì quá căng thẳng và có thể vì là "một người
lính nông dân" lần đầu đứng trước một tấm kính khổng
lồ, Bùi Quang Thận lao vào...tấm kính như tấm gương soi mạnh
đến nỗi anh...ngã bật ra đằng sau ngồi bệt xuống đất.
Tay vẫn cầm lá cờ, anh lồm cồm đứng đậy để làm nốt
"vai trò lịch sử" là cắm cờ trên dinh Độc Lập. Người
dẫn đường cho Bùi Quang Thận lên cắm cờ là Đại tá
Vũ Chiêm (Quân lực VNCH). Cùng hỗ trợ việc cắm cờ cùng
Bùi Quang Thận còn có anh thanh niên Nguyễn Hữu Thái (cựu
chủ tịch Tổng hội sinh viên Sài Gòn) và nhà báo Huỳnh Văn
Tòng. Theo lời kể của Trung úy Bùi Quang Thận: Đại tá Vũ
Chiêm dẫn cả ba người tới thang máy, loại phương tiện
mà đối với tôi còn lạ hơn tấm kính khổng lồ nhiều.
Bùi Quang Thận nhất quyết kiên cường không vào. Mãi về
sau anh kể lại: Lúc đó tôi nhìn thấy nó như cái hòm. Vào
đó nó nhốt mình vào như tù bình thì biết bao giờ mới ra
được. Sau khi nghe đại tá Chiêm giải thích, Bùi Quang Thận
mới chịu dùng thang máy nhưng bắt vị này bước vào trước
thì mình mới vào sau.
Bùi Quang Thận xúc động, anh
dừng một lúc rồi nói tiếp:
Trước hai cánh cửa sắt, người
dẫn đường ấn vào nút, hai cánh cửa dẹp về hai phía, bên
trong hiện ra một khoang giống như cái thùng sắt đựng lúa
của ta. Bởi từ thuở cha sinh mẹ đẻ đến nay tôi đã biết
thang máy là thế nào đâu. Nói đến đây, anh phá lên cười
rồi nói: Khi lên đến nơi, tôi hạ cờ Ngụy xuống. Nhưng
do cờ được buộc chắc chắn nên phải cắn bằng răng(!?),
sau đó treo cờ giải phóng vào. Kéo cờ mình lên, tôi lại
hạ xuống, đưa tay xem đồng hồ...(3a)
Phạm Xuân Thệ (phải) tay cầm
súng
Bùi Quang Thận (trái) tay không
đeo...đồng hồ. (3a)
(ảnh Borries Gallasch)
Sau khi hạ lá cờ xuống, Bùi
Quang Thận đưa tay xem đồng hồ và cẩn thận ghi vào góc
lá cờ: "11 giờ 30 phút 30-04-1975. Ký tên: Thận". Lá cờ chiến
thắng tung bay trên nóc dinh Độc Lập dưới sự chứng kiến
với niềm tự hào thiêng liêng của ba người, ba miền đất
nước lúc đó. Một trung úy dũng cảm Bùi Quang Thận đến
từ hậu phương vững chắc miền Bắc. Một thanh niên yêu
nước Nguyễn Hữu Thái quê miền Trung ruột thịt. Một nhà
báo ái quốc Huỳnh Văn Tòng sinh trưởng tại chính miền Nam
khói lửa.
(Tổng hợp Dương Tùng & Huy
Đức)
Từ R, căn cứ trung uơng cục
ở Lộc Ninh đến Sài Gòn
Sáng sớm ngày 27-4-1975...
"Cánh" của ông Võ Văn
Kiệt từ R, căn cứ trung uơng cục ở Lộc Ninh, ông
Kiệt cùng một bộ phận phục vụ gọn, khoảng hai trung đội,
chạy xe Honda 67 bọc qua phía Campuchia, tới cửa biên giới
Mỏ Vẹt, Long An thì bỏ xe lại, đi bộ. Đoàn vượt
qua sông Vàm Cỏ Đông thuộc Đức Hoà gặp cánh Mai Chí Thọ
đang
đi
lơ ngơ. Hai đoàn nhập làm một. Ít ai nghĩ ba, bốn ngày
nữa rồi những người mặc bà ba
đen,
đi dép
râu, mặt mày khắc khổ đang xắn quắn lội ruộng đó
lại sẽ là "chủ nhân ông" của thành phố Sài Gòn.
Sáng hôm sau 28-4,..
Khi sương sớm còn phủ trắng,
từ nơi tạm dừng nhìn qua phía bên kia cánh đồng, ông
Kiệt bất ngờ nhìn thấy lố nhố xe pháo. Lúc đàu
cả hai ngỡ xe tăng "địch". Tới khi sương mù
bớt đi, mới nhận ra: "Cơ man tăng. Tăng
mình!". Ông Kiệt viết thư, niêm kín, ra lệnh cho thư ký riêng
là Ba Hùng, đi kiếm Trung tướng Lê Đức Anh hỏi
cho ra lẽ.
Tướng Lê Đức Anh được giao
chỉ huy Đoàn 232 (1), một lực lượng
tương đương quân đoàn, tiến về Sài Gòn hướng tây-nam.
Dọc đường Ba Hùng đi, đạn pháo nằm la liệt trên các bờ
ruộng, bờ kênh, dân công rầm rập, bộ đội, xe tăng
lớp lớp. Tướng Lê Đức Anh viết thư trả lời "Anh Sáu
Dân" (bí danh của ông Kiệt), rồi cũng niêm kín, đưa Ba Hùng
cầm về.
Sau này Ba Hùng mới biết trước
đó ông Võ Văn Kiệt không hề biết đó là thông tin
về giờ G. ngày N, tức 00 giờ 00 phút ngày 29-4-1975,
là giờ quy định cho tất cả năm
cánh quân của quân Giải phóng đồng loạt nổ súng tấn
công vào Sài Gòn.
(Giải phóng – Huy Đức)
(1) Đoàn
232 gồm Sư đoàn 5, Sư đoàn 9 do Thiếu tướng Nguyễn Minh
Châu làm tư lệnh. Tướng Lê Đức Anh chỉ là tư lệnh cánh
quân phía tây-nam có nhiệm vụ cắt đường số 4 ở Bến
Lức - ngã ba Trung Lương.
Tang thương ngẫu lục
Năm 74, tướng Lê Đức Anh là
phó tư lệnh quân giải phóng miền Nam. Năm 75, là phó tư lệnh
chiến dịch Hồ Chí Minh, sau bị thay thế bởi tướng Lê Trọng
Tấn.
Sau trận Xuân Lộc, Quân đoàn
4 (mới thành lập) và Quân đoàn 2 kéo xuống bao vây Sài Gòn.
Lúc này người điều binh là Lê Trọng Tấn, tướng thân cận
với tướng Võ Nguyên Giáp. Người quyết định chiến trường
là tướng Nguyễn Hữu An, cùng Quân đoàn 2 với Lê Trọng
Tấn. Có thể vì vậy, Lê Đức Anh không viếng Võ Nguyên Giáp
ở...nhà quàn.
- :
Tướng Lê Đức Anh (người Huế), tướng Trần Văn Trà (người
Quảng Ngải) trước là tư lệnh Khu 7 (1949-1950), sau là tư
lệnh quân giải phóng (1973-1974). Cả
hai tướng Trà và tướng Anh đều từ miền Bắc được điều
động vào miền Nam thập niên 50.
Từ R, căn cứ trung uơng
cục ở Lộc Ninh đến Sài Gòn
Trưa 29-4...
Đoàn lội bưng băng vô vườn
thơm Bình Chánh, hạ trại nấu cơm. Bếp rơm có khói, một
chiếc trực thăng trờ tới lia vài băng vu vơ. Cả hai đoàn
"sơ tán" mỏng, người lủi xuống ruộng, người chui vào bụi
cây. Đêm ấy, Ba Hùng măc võng bên cạnh ông Kiệt, nằm nghe
tiếng pháo...
Ba Hùng và ông Kiệt không hay
biết đấy là tiếng pháo..."ta pháo kích vào Tân Sơn
Nhất".
Sáng 30-4...
Ông Kiệt trao đổi tình
hình với ông Mai Chí Thọ. Nhưng ông Thọ cũng không biết
gì hơn nên ông Kiệt phân công người theo dõi đài phát
thanh Sài Gòn và cho phép anh em nấu ăn. Từ đêm trước,
chưa ai có hột cơm nào vô bụng.
Khoảng 9 giờ sáng 30-4...
Ông Kiệt không lúc nào rời
chiếc radio ba làn sóng hiệu JVC của Nhật. Tới 9 giờ 30 phút
đài
Sài Gòn có tiếng của phát thanh viên: "Mời đồng bào
nghe tuyên bố của tổng thống".
Mọi người xúm lại chiếc radio
theo dõi phát biểu của Tổng thống Dương Văn Minh.
(...) Đường lối, chủ trương
của chúng tôi là hoà giải và hoà hợp dân tộc để cứu
sinh mạng đồng bào. Tôi tin tưởng sâu xa vào sự hoà giải
giữa người Việt Nam để khỏi phí phạm xương máu người
Việt Nam. Vì lẽ đó, tôi yêu cầu tất cả các anh em chiến
sỹ Cộng hoà hãy bình tĩnh, ngưng nổ súng, và ở đâu ở
đó. Chúng tôi cũng yêu cầu anh em chiến sỹ Chánh phủ cách
mạng lâm thời cộng hoà miền Nam Việt Nam ngưng nổ súng.
Chúng tôi ở đây chờ gặp Chánh phủ lâm thời cộng hoà
miền Nam Việt Nam để cùng nhau thảo luận về lễ bàn giao
chánh quyền trong vòng trật tự, tránh đổ máu vô ích của
đồng bào. (...)
Lời tướng Minh vừa dứt, Võ
Văn Kiệt ra lệnh: Giản chính đồ đạc. Đi. Ông Thọ hỏi
đi đâu vì không ai biết đường vào Sài Gòn. Đoàn người
lúc đó chẳng kịp ăn uống, băng đồng ra lộ. Ông Kiệt
gọi hai cận vệ là Tư và Chín vốn là dân thành phố, đến,
ra lệnh: Hai đồng chí nhanh chóng tìm xe đưa Đại quân vô
Sài Gòn. Hai đồng chí Tư và Chín đưa Đại quân về hướng...Phú
Lâm.
Rồi cả hai thấy một chiếc
GMC mới cáu cạnh bỏ không bên đường. Cạnh xe có anh công
nhân. Đồng chí Chín nói: Tụi tôi là Giải phóng. Nhờ anh
đưa tụi tôi vô giải phóng Sài Gòn.
May mà anh nhân công biết lái
xe GMC.
(Giải phóng – Huy Đức)
Chuyện một
thời tao loạn
Lần
đầu tiên đụng trận, giữa khói lửa mù mịt và tiếng đạn
bay veo véo, hắn tự nhiên xuất tinh. Với hắn, lần đầu
tiên nã súng vào quân địch cũng giống như lần đầu tiên
hắn chơi gái:
Những thứ vọt
ra từ hắn đều khiến hắn ngây ngất.
(Website Tiền Vệ
- Truyện cực ngắn hay Truyện chớp)
Thâm u bí sử
Trên thực tế chiến trường,
cuộc tổng công kích và khởi nghĩa đã bị nghiền nát. Trong
chiến dịch Mậu Thân, ông Võ Văn Kiệt đã vào sâu tận nội
thành Sài Gòn. Chiều mùng một Tết, ông đã có mặt ở xóm
nhỏ gần đình Bình Đông, quận 8. Những người trực tiếp
ở chiến trường như ông đã phải chứng kiến sự hy sinh
quá lớn. Ông nói: "Lúc đó tôi đau đến mức nhiều lần
bật khóc". Hơn 11 vạn quân giải phóng đã phải hy sinh trên
toàn chiến trường, còn thương vong của dân chúng thì không
thể nào tính được. Phần lớn căn cứ địa của quân giải
phóng ở nông thôn trở thành "đất trắng". Chưa bao giờ quân
giải phóng ở trong tình trạng như vậy, có những sĩ quan
chỉ huy cấp sư đoàn cũng chịu không nổi, ra đầu hàng chính
quyền Sài Gòn.
Trong khi đó, ở Hà Nội, tướng
Võ Nguyên Giáp cũng biết tin và nói: Có đồng chí chỉ huy
gửi điện cho tôi nói rõ tình hình bộ đội tan tác, ẩn
nấp trong rừng mặn ngập nước không chỉ huy được nữa
và xin rút. Tôi đồng ý và viết điện trả lời.
Sáng hôm sau giao ban thấy bức
điện vẫn còn để nguyên bàn. Tôi hỏi tại sao chưa gửi
thì anh Văn Tiến Dũng trả lời tôi: Mình anh quyết định
sao được.
(Quyền bính – Huy Đức)
Góp nhặt...ghi
chép...
Ba giờ chiều
ngày 29-4-1975, tình hình quân sự được báo cáo về Bộ tổng
tham mưu: Hướng Củ Chi, Sư đoàn 25 (1)
của
Chuẩn tướng Lý Tòng Bá thất thủ. Ở Biên Hòa, họ đánh
chiếm chi khu Long Thành. Bà Rịa bị mất. Thiếu tướng Lê
Minh Đảo nói với tướng Nguyễn Hữu Hạnh xin rút về bên
này sông Đồng Nai để cố thủ. Tướng Hạnh trình bày tình
hình quân sự với Trung tướng Vĩnh Lộc và
Trung tướng Nguyễn Hữu Có. Theo ông Hạnh: Nghe xong, tướng
Vĩnh Lộc biến đổi sắc mặt, vội
cầm lấy điện thoại báo cáo với ông Minh. Ông Hạnh nhớ
lại: Tôi và tướng Có đến nhà ông Minh lúc 6 giờ sáng (30-4-1975).
Gặp ông Minh, tướng Có trình bày lại toàn bộ tình hình
quân sự như tôi đã nói. Ông Minh trầm ngâm: Thôi để moa
đi bàn với ông Huyền và ông Mẫu, các toa ngồi đây đợi.
Tôi đề nghị được đi theo, ông Minh đồng ý.
Trên đường
đi đến số 7 Thống Nhất, chúng tôi chứng kiến sự hốt
hoảng của dân chúng tại tòa đại sứ. Đại sứ Martin vừa
rời khỏi Sài Gòn vào lúc 4 giờ 58 phút sáng nay. Trên xe ông
Huyền nói với ông Minh một câu bằng tiếng Pháp "Il faut se
rendre" (phải đầu hàng).
Tình hình càng
ngày càng nguy ngập. Lúc 8 giờ sáng 30-4, ba ông Dương Văn
Minh, Nguyễn Văn Huyền và Vũ Văn Mẫu không còn lựa chọn
nào hơn là đơn phương tuyên bố "bàn giao chính quyền cho
Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam".
Ông Mẫu soạn lời tuyên bố mất khoảng một tiếng đồng
hồ. Ông Minh cho đọc vào máy ghi âm vào lúc 9 giờ 30.
Lời tuyên bố này được phát đi trên đài phát thanh Sài
Gòn đúng 10 giờ 15 sáng.
(Hồi ký không
tên - Lý Quý Chung)
(1) Sư
đoàn 25 ( Chuẩn tướng Lý Tòng Bá) đối đầu với
Quân đoàn 3 (Thượng tướng
Hoàng Minh Thảo).
- :Sau
khi điện thoại báo cáo với ông Minh. Ông Vĩnh Lộc bắt tay
tôi, đó là cái bắt tay cuối cùng". 8 giờ sáng 30-4-1975, viên
tướng dòng dõi hoàng tộc này đã cùng gia đình "di tản"
bằng đường thủy. (Nguồn: Nguyễn Hữu Hạnh)
Thâm u bí sử
Nhưng, Mậu Thân ở Huế bị
nặng nề hơn: 14.000 thường dân chết, 24.000 dân bị thương,
627.000 dân bị mất nhà cửa. Có nhiều người Huế đã bị
bắt đi thủ tiêu.
Ở miền Tây, theo Trần Văn Trà:
Ngày xuất quân, tiểu đoàn chúng tôi đầy đủ số quân xấp
xỉ một nghìn tay súng chỉ còn một trăm chiến sĩ. Có tiểu
đoàn khi đánh vào Cần Thơ, bộ đội ngồi chật cả trăm
xuồng, khi ra chỉ còn chục chiếc, mỗi chiếc chở vài ba
anh em. Đành rằng, trong chiến tranh, không phải lúc nào cũng
lấy việc "đếm xác" của hai bên chiến trường để kết
luận sự thắng bại. Nhưng để tổn thất lớn là điều
phải trăn trở, suy nghĩ: "Lỗi tại ai?", đặc biệt với chúng
tôi là những người cầm súng trên chiến trường. (Hồi ký
đời chiến sĩ - Trần Văn Trà)
Tôi nhớ trong khi đó anh em trong
đơn vị đã truyền nhau câu lục bát:
Vòng Cung (1)
đi dễ khó về
Đạn chen
đầu đạn, bom kề hố bom
Hay là:
Tưởng là
lên lộ đi xe
Ai ngờ trở
lại không ghe, không xuồng
(Quyền bính – Huy Đức)
(1) Vòng
Cung: con lộ để xâm nhập Cần Thơ-Cái Răng.
- :
Trần Văn Trà 1982 in Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm
phê bình giới lãnh đạo miền Bắc chủ quan trong trận Mậu
Thân. Sách mới in tập 5 thì bị thu hồi vì bị coi là...không
chính thống.
Góp nhặt...ghi
chép...
Sư đoàn 5
(Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ) đối đầu với
Quân đoàn
3 (Thiếu tướng Vũ Lăng).
Nhiệm vụ
của Quân đoàn 3 là bao vây Sư đoàn 5 QLVNCH ở Bến Cát,Bình
Dương, Lai Khê, ngăn chặn Sư đoàn 5
rút về vòng đai Sài Gòn và vô hiệu hóa đơn vị này. Phát
hiện Sư đoàn 312 đang bao vây căn cứ Lai Khê, Chuẩn tướng
Lê Nguyên Vỹ, tư lệnh Sư đoàn 5 sử dụng Chiến đoàn 7,
có xe tăng yểm hộ cố giải tỏa đường 13 và 14. Nhưng khi
đoàn xe di chuyển đến khu vực Tam Giáo thì rơi đúng vào
mũi tấn công của Sư đoàn 312, có Lữ đoàn xe tăng 202 (thiếu)
yểm hộ. Sau khi bị bắn cháy ba chiếc xe đi đầu, Chiến
đoàn 7 đã bị tách khỏi chủ lực Sư đoàn 5 ở Lai Khê và
toàn bộ Sư đoàn 5 của Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ cũng bị
cô lập ở phía bắc Thủ Dầu Một.
Thâm u bí sử
Sau thất bại trận Mậu Thân,
là cán bộ chiến trường, ông Võ Văn Kiệt (và Lê Đức Anh)
ra Hà Nội để báo cáo. Đó là lần đầu tiên ông Kiệt ra
Hà Nội, lần đầu làm việc với Bộ quốc phòng, gặp tướng
Lê Hai, tướng Văn Tiến Dũng, tướng Võ Nguyên Giáp. Và gặp
cả Tố Hữu nữa.
Theo ông Kiệt, ông Tố Hữu nhiều
lần gặp ông vỗ về: Khắc phục Khu IV (1)
thi hành nghị quyết "gò cương vỗ béo". Tướng Lê Hai, tướng
Dũng kín đáo, không bộc lộ chính kiến rõ ràng.
Tướng Võ Nguyên Giáp chỉ vào
"lõm Tây Nam Bộ" hỏi: Giữ được không?. Ông Kiệt trả lời:
Nếu cả chiến trường tiếp tục tiến công, T3 (2)
sẽ giữ được. Nếu rút, T3 sẽ mất.
Sau đó từ giữa tháng 4-1973,
ông Giáp cho lập "Tổ trung tâm" để xây dựng "Đề cương
chiến lược tiến công" mang bí số "305 TG1", Tổ trung tâm
được điền nghiên từ tướng tâm phúc của ông là Lê Trọng
Tấn.
Mùa hè năm 1973, Lê Duẩn cho
gọi tướng Lê Hữu Đức (3) hỏi:
Bộ tổng tham mưu đang làm gì? Tướng Đức: Dạ đang thảo
kế hoạch giải phóng miền Nam. Lê Duẩn: Thế tôi nghe được
không? Buổi chiều hôm đó, tướng Lê Trọng Tấn, tướng
Vũ Lăng cùng tướng Lê Hữu Đức quay lại trình bày chi tiết.
Lê Duẩn nói: Tôi cũng đang suy nghĩ như vậy. Tổ trung tâm
củng cố suy nghĩ đó của tôi. Việc báo ra Bộ chính trị
một "vấn đề tuyệt mật" đó làm cho các sĩ quan tác chiến
ở Bộ quốc phòng lo lắng. Trong đó có Văn Tiến Dũng.
Ông Võ Văn Kiệt nhớ lại Hội
nghị trung ương 21 khai mạc tháng 6-1973 thông qua và xác định:
Con đường giải phóng miền Nam là con đường vũ lực. Tướng
Trần Văn Trà cho rằng: Từ đề cương "305 TG1" của Đại
tướng Võ Nguyên Giáp mới có "Chiến dịch Hồ Chí Minh", trận
đánh cuối cùng của quân giải phóng.
(Quyền bính – Huy Đức)
(1) Khu
IV là miền Nam, Khu V là miền Trung.
(2) T3
là mật danh của Khu IV.
(3) Quân
hàm thượng tướng, sau là thứ trưởng bộ quốc phòng.
- :Khoảng
một tháng sau Lê Đức Anh từ Hà Nội về lại Bộ tư lệnh
Miền. Hà Nội quyêt định phong quân hàm từ "đại tá" lên..."trung
tướng" cho Lê Đức Anh.
Góp nhặt...ghi
chép...
Sư đoàn 7
(Chuẩn tướng Trần Văn Hai) đối đầu với
Đoàn 232 (Thiếu
tướng Nguyễn Minh Châu).
Nhiệm vụ
của Đoàn 232 là cắt đường số 4 (Bến Lức-ngã ba Trung
Lương), chiếm Tân An, Mỹ
Tho, chia cắt Sài Gòn và miền Tây Nam
bộ. Ngoài ra, Đoàn 232 còn có nhiệm vụ đánh chiếm các tỉnh
lỵ Long An, Kiến Tường, đóng chốt chặn đường số 4
không cho QLVNCH ở Sài Gòn rút về đồng bằng sông Cửu Long.
Thâm u bí sử
Ngày 13-11-1974, tướng Trần Văn
Trà và Phạm Hùng ngồi trên xe Gaz69 do Nga sản xuất rời Lộc
Ninh, nơi đóng chỉ huy sở qủa Quân khu B-2, thủ đô của
Chính phủ cách mạng lâm thời. Nhằm hướng bắc trên đường
13 giữa ban ngày, chưa đầy nửa giờ sau, tướng Trà và Phạm
Hùng vượt qua biên giới Cămpuchia đến nam Lào, tiếp tục
con đường Hồ Chí Minh tới Đông Hà đi Hà Nội. Bình thường
từ Nam ra Bắc phải mất cả tháng nay chỉ có bốn ngày.
Hội nghị của bộ Chính trị
triệu tập các chỉ huy trưởng các mặt trận ở miền Nam
ra Hà Nội để sửa soạn cho cuộc tổng tấn công năm 75.
Hội nghị kéo dài 22 ngày, từ 18-12-1974 đến 8-1-1975, đây
là cơ hội tướng Trà thanh minh sự thất bại trận Mậu Thân
không phải do lỗi của ông.
(vì trận Mậu Thân, tuớng Trà
không được vào bộ Chính trị). Sau đó ông đưa ra kế hoạch
đánh Phước Long để thử phản ứng của Mỹ.
Trong bộ Chính trị có nhiều
người không tán thành, trong đó có Văn Tiến Dũng vì Phước
Long chỉ cách Sài Gòn 130 km. Nhưng riêng Lê Duẩn thì lại
ủng hộ và phê duyệt kế hoạch trận đánh. Ông Lê Duẩn
cảnh báo tướng Trà: "Cứ tiếp tục tiến công...nhưng phải
thắng".
Đó cũng là lý do tại sao Văn
Tiến Dũng (1) phải nhanh chóng vào
miền Nam.
Trận đánh mở màn ngày 13-12-1975,
Phước Long thất thủ ngay từ ngày đầu vì là tỉnh lỵ cô
lâp, bị tiến công bởi Quân đoàn 301 của miền Bắc với
Sư đoàn 7, một tiểu đoàn T54 và một lữ đoàn trọng pháo,
một lữ đoàn pháo phòng không và Sư đoàn 3 mới thành lập.
Văn Tiến Dũng (1) nhanh chóng báo về
Hà Nội: "Quân ta đã chiếm hoàn toàn Phước Long"...trong lúc
bộ Chính trị và Quân ủy trung ương đang họp phương án
đánh Phước Long của tướng Trần Văn Trà.
(Perfect Spy – Larry Berman)
(1) Thực
sự tướng Văn Tiến Dũng rời Hà
Nội ngày 5-2-1975 bay tới Đồng Hới và có mặt tại
. Gio Linh cùng ngày (5-2-1975).
Tang thương ngẫu lục
Trận Xuân Lộc, tướng Hoàng
Cầm bị thay thế. Tướng Văn Tiến Dũng (và Lê Đức Thọ)
đưa tướng Trần Văn Trà làm Tư lệnh quân giải phóng Miền
để chỉ đạo trực tiếp chiến dịch. Tại mặt trận Sài
Gòn, tướng Võ Nguyên Giáp (và Lê Duẩn) đưa tướng Hoàng
Cầm trở lại cầm quân nắm Quân đoàn 4.
Từ đấy, Trần Văn Trà ít xuất
hiện...Ngày 15-5-1975 duyệt binh mừng ngày giải phóng miền
Nam (1). Trần Văn Trà mới có mặt
với chức vụ chủ tịch Ủy ban quân quản.
Lê Đức Anh cũng vậy, được
đề cử làm phó bí thư Ủy ban quân quản.
(Wikipedia)
(1) Ngày
15-11-1975, chỉ 7 tháng sau ngày chiến thắng 30-4 (Trần Văn
Trà nhận chức vụ chủ tịch Ủy ban quân quản). Tại dinh
Độc Lập cũ, người miền Bắc tuyên bố: Thống nhất
đất nước, nước Việt Nam là một. Mặt trận giải phóng
miền Nam đã bị các "đồng chí lãnh đạo miền Bắc" khai
tử như VNCH đã bị khai tử với Cái chết của Sài Gòn
7 tháng trước.
Tướng Trần Văn Trà, chủ tịch
Ủy ban quân quản Sài Gòn ngày nào bị về hưu sớm dưới
hình thức quản thúc tại gia. (The Fall Of Sai Gon trích trong
"Cruel April" - Ouvier Todd)
Góp nhặt sỏi đá
Lê Trọng Tấn và Hoàng Cầm
là hai tướng gắn bó với nhau qua trận Điện Biên Phủ vì
cùng một đơn vị Sư đoàn 312. Cuối năm 1954, Hoàng Cầm thay
thế Lê Trọng Tấn, đại tá Hoàng Cầm trở thành sư trưởng
Sư
đoàn 312. Sau đó, trên chiến trường B2 Hoàng Cầm được
cử giữ chức phó tư lệnh kiêm tham mưu trưởng quân giải
phóng, dưới quyền trung tướngtư lệnhTrần
Văn Trà. Ngày 20-7-1974,
Quân đoàn 4 được thành lập
trên cơ sở của Sư đoàn 312, Hoàng Cầm được cử
làm tư lệnh. Ông là người chỉ huy quân đoàn này đánh vào
Xuân Lộc, khai thông con đường phía đông cho Quân đoàn 2
của Lê Trọng Tấn tiến vào.
Ngày 30-4, Quân đoàn 4 đội quân
chủ lực do Hoàng Cầm chỉ huy cùng cánh quân của Quân đoàn
2 hội tụ tại dinh Độc Lập. Hai ngày sau, Trần Văn Trà mới
xuất hiện ở dinh Độc Lập.
Quân sử ngoại truyện
Ngày 2-5-1975, tướng Trần Văn
Trà mới về đến dinh Độc Lập gặp tướng Minh và "cam kết"
sau khi đầu hàng sẽ không trả thù hay bắt bỏ tù các quân
cán chính VNCH.
Ngày 5-5-1975, "Mệnh lệnh số
1" về việc trình diện được đưa ra. Người ký tên: Thay
mặt Ủy ban quân quản thành phố Sàigòn Gia Định - Chủ tịch,
Thượng tướng Trần Văn Trà.
Ngày 13-6-1975, Lê Đức Thọ buộc
tướng Trà phải "thất hứa" với tướng Minh bằng cách đưa
các quân cán chính VNCH vào các trại tù tập trung cải tạo!
Lịch trình trình diện:
Ngày 13-6 đến 15-6-1975: Cấp
tướng và cấp tá.
"Sĩ quan cấp tướng, tá" được
hướng dẫn mang theo "thực phẩm, lương thực đủ dùng trong
một tháng".
Ngày 23-6 đến 24-6-1975: Đại
uý.
Ngày 25-6 đến 26-6-1975: Trung
uý, thiếu uý.
"Thiếu uý đến đại uý" được
hướng dẫn: "Phải mang giấy bút, quần áo, mùng màn, các
vật dụng cá nhân, lương thực, thực phẩm (bằng tiền hoặc
hiện vật) đủ dùng trong mười ngày kể từ ngày đến tập
trung".
- : Người
ra lệnh trực tiếp bắt giam cải tạo tất cả quân nhân công
chức miền Nam sau năm 1975 là Đại tá Cao Đăng Chiếm.
Góp nhặt...ghi
chép...
Tướng Nguyễn
Công Trang viết: Ngày 30-4-1975, sau khi giải phóng Đà Nẵng,
Quân đoàn tiến thẳng về Sài Gòn. Trên đường đi, Quân
đoàn nhận được lệnh của Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ
Chí Minh là phát triển tiến công thật nhanh vào các mục tiêu,
kêu gọi địch đầu hàng, nộp toàn bộ vũ khí, bắt giữ
và tập trung các sĩ quan địch từ cấp tá trở lên.
(Hồi ký Đời
chiến đấu)
Tướng Văn
Tiến Dũng, lúc đó đang nghe lời kêu gọi của Dương Văn
Minh trên đài phát thanh Sài Gòn. Ngay sau đó, ông Văn Tiến
Dũng đã ra lệnh: Bắt giữ sĩ quan từ cấp thiếu tá trở
lên.
(Đại thắng
mùa xuân)
Góp nhặt...ghi
chép...
Kế hoạch
được gọi là Chiến dịch X-1. Ông Võ Văn Kiệt thừa nhận:
"Việc công
bố ba mức thời gian học tập cho hạ sĩ quan binh lính, ba
ngày, cấp úy, mười ngày; tướng, tá, một tháng là có ý
để cho các đội tượng ngầm hiểu rằng, thời gian học
tập tối đa của các sĩ quan chỉ là một tháng.
Không chỉ
có "Cách mạng 30-4", ông Võ Văn Kiệt thừa nhận, không ai
trong số những người tiếp quản Sài Gòn năm 1975 có kiến
thức về quản lý nhà nước".
(Bên thắng
cuộc - Huy Đức)
Góp nhặt
sỏi đá
"Tù cải tạo" đã có từ năm
1961 qua Nghị quyết hội đồng bộ trưởng "49-NQTVQH" của
Thủ tướng Phạm Văn Đồng với chích sách "Tù cải tạo".
(nhắm vào nhóm Nhân Văn Giai Phẩm)
Ông Trần Văn Trà là người
thi hành lệnh của Lê Duẩn. Vì ông Trà đồng quan điểm với
tướng Giáp là không nên bắt chính quyền Sài Gòn
và quân đội Sài Gòn đi cải tạo...
- :
Huỳnh Tấn Phát đưa ra "chánh sách khoan hồng" 3 năm làm mốc.
Cứ hết 3 năm này thì đến
3 năm khác nếu cần thiết!
(Bên thắng cuộc - Huy Đức)
Bên lề
trận chiến
Năm 1977, ở
Mỹ, bà Khúc Minh Thơ lập "Hội gia đình tù nhân chính trị
Việt Nam". Hội của bà Thơ (1)
và ông Robert Funseth (2)
đã vận động giới lập pháp, hành pháp, Tổng thư ký Liên
Hiệp Quốc và cả Đức Giáo Hoàng, gây sức ép để thả
chồng con của họ cùng với gia đình sang Mỹ định cư (2).
Qua chương trình "Ra đi trật tự" (ODP) để đoàn tụ gia đình
hay con lai. "Chương trình tái định cư nhân đạo" (HO) dành
cho người cải tạo chưa có cơ hội nộp đơn qua ODP. Nhiều
người biết đến bà Khúc Minh Thơ và ông Robert Funseth qua
chương trình HO.
(Nguồn tổng
hợp Nguyễn Hữu Của (HO1) & Huy Đức)
(1) Bà
Khúc Minh Thơ (quả phụ của Đại uý Nguyễn Đình Phúc). Trước
75, bà phục vụ trong toà đại sứ Việt Nam ở Manila, Philippine.
(2) Ông
Robert Funseth (và bà Khúc Minh Thơ) đã nỗ lực liên tục 7
năm, kể từ năm 1982 (thời Tổng thống Reagan). Chính phủ
Mỹ và Việt Nam đã ký kết bản thoả hiệp ngày 30-7-1989
đồng ý để 300.000 tù nhân chính trị, những cựu quân nhân
cùng gia đình họ định cư tại Mỹ.
- :
Năm 1982, tổng thống Reagan là người giải quyết các chiến
binh mất tích trong chiến tranh (MIA) và tù nhân Mỹ. Tổng thống
Reagan bổ nhiệm ông Robert Funseth, phụ tá thứ trưởng ngoại
giao đặc trách tỵ nạn và tù nhân Việt Nam.
- :
HO đầu tiên qua Mỹ năm 1990 (HO1).
Lạc đạn
Tạ Chí Đại Trường, năm ấy
là một sĩ quan biệt phái với cấp bậc đại úy, thuộc diện
"học tập mười ngày" viết: Hầu hết đều bình thản đến
cổng, xin vào. Có người thuộc diện "ba ngày" tiễn đưa bạn,
ngồi quán nhậu ngà ngà cũng theo bạn vào cổng cho vui. Rồi
cũng bị đi cải tạo luôn...
(Bên thắng cuộc - Huy Đức)
Chữ nghĩa
của một thời chinh chiến
trong quán
nhậu
Trước 75,
miền Nam có những câu "thành ngữ"
về thuốc
lá xuất xứ từ quán nhậu, như:
Salem :
Sao
anh làm em mệt
Góp nhặt...ghi
chép...
Những con số
với sĩ quan bị đi tù cải tạo
Cấp tướng
: 32
Đại tá :
366
Trung tá :
1.700
Thiếu tá
: 5,500
Cấp úy :
72,000
Không kể thành
phần bị bắt trước năm 1975, nhưng không được trao trả
tù binh sau 1973, thì thời gian tù "cải tạo" kéo dài từ 1
năm đến 17 năm (từ 1975-1992).
Năm 1988, gần
như là năm cuối cùng, hầu hết tù được trả tự do.
4 năm tiếp
theo chỉ còn lại 120 tù bị giam tại Z30D, gọi là trại Thủ
Đức ở Hàm Tân. Trong này có 9 vị tướng lãnh. 4 thiếu tướng:
Lê Minh Đảo, Đỗ Kế Giai, Trần Bá Di, Nguyễn Ngọc Sang và
5 chuẩn tướng: Lê văn Thân, Hoàng Lạc, Mạch văn Trường,
Trần Quang Khôi, Phạm Duy Tất.
(Nguyễn Văn
Khậy - K25/TĐ)
Bên lề
trận chiến
Năm 1982, Bộ
trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch nói Việt Nam sẽ thả
hết tù cải tạo nếu chính phủ Mỹ đồng ý tiếp nhận
họ. Thủ tướng Phạm Văn Đồng trả lời phỏng vấn tạp
chí Newsweek cũng xác nhận Việt Nam sẵn sàng để tất cả
những người còn lại tới Mỹ.
Tháng 7-1988,
phái đoàn Mỹ do ông Robert Funseth, phụ tá thứ trưởng ngoại
giao dẫn đầu tới Hà Nội họp với Thứ trưởng ngoại giao
Trần Quang Cơ để bàn về việc trả tự do và đưa đi Mỹ
các "tù nhân chính trị".
(Bên thắng
cuộc - Huy Đức)
Tang thương ngẫu lục
Sau năm 1975 không bao lâu, ngày
7-2-1980, tướng Võ Nguyên Giáp thôi giữ chức Bộ trưởng
bộ quốc phòng nhưng vẫn tiếp tục là Ủy viên bộ chính
trị (đến năm 1982) và Phó thủ tướng phụ trách khoa học-kỹ
thuật. Người thay thế ông ở bộ quốc phòng là tướng Văn
Tiến Dũng, một trong những cộng sự lâu năm của ông.
***
Một hôm, trong một bữa cơm
thân mật tại nhà Thượng tướng Trần Văn Trà. Tướng Trà
nêu câu hỏi vì sao năm 1980 tướng Giáp thôi làm Bộ trưởng
bộ quốc phòng và năm 1982 cũng thôi Uỷ viên bộ chính Trị.
Thượng tướng Trà được đại tướng Giáp cho hay chủ yếu
là do mâu thuẫn với anh Ba (Lê Duẩn) nhiều việc: Từ những
năm 1950 anh Văn đã không đồng tình đánh Nhân văn Giai phẩm
và ngay thời gian đó vẫn thường thăm hỏi, sẻ chia chân
tình với một số nhà văn có tài. Anh Tư (tên thường gọi
của Thượng tướng Trần Văn Trà) kể tiếp: Khi đánh xét
lại anh Văn bị coi như trùm trưởng dấu mặt. Đối với
cải cách ruộng đất và cải tạo công thương tư doanh cả
ở miền Bắc và sau này ở miền Nam, anh Văn cũng không tán
thành.
Mâu thuẫn với anh Ba càng sâu
sắc hơn khi sau ngày 30-4-1975, anh Ba chủ trương bắt chính
quyền Sài Gòn và quân đội Sài Gòn đi cải tạo. Trong
khi mình (tướng Trà) thì nhất trí với anh Văn là nên phân
biệt hàng binh và tù binh, nên đối xử với những người
bại trận như nước Mỹ thế kỷ 18 trong chiến tranh nội
chiến Nam Bắc. Phía Bắc thắng, phía Nam đầu hàng mà
không bị xử lý gì. Cha ông ta xưa cũng từng đối xử với
giặc Tàu bại trận như vậy.
(Văn bia Vĩnh Lăng kể về chiến
công Lê Lợi- Nguyễn Trãi đánh thắng quân Minh còn ghi rõ:
"Những quân giặc bị bắt và những quân đầu hàng có
đến mười vạn người, đều tha cho về cả. Đường thủy
thì cấp cho hơn 500 thuyền, đường bộ thì cấp cho lương
ăn và ngựa, răn cấm quân sỹ (của ta) không được
xâm phạm mảy may (đến quân giặc").
Một hôm, tôi đến hỏi đại
tướng để xác minh lời kể của thượng tướng Trà. Đại
tướng Giáp dẫn tôi ra ngoài vườn vì sợ trong nhà bị đặt
máy ghi âm. Đi hết mấy vòng sân vườn, đại tướng xác
nhận: Các điều anh Tư nói đều đúng hết. Nhưng thôi đừng
quan tâm. Lịch sử rồi sẽ minh xét như vụ án Lệ Chi Viên,
cụ Nguyễn Trãi bị chu di tam tộc nhưng lịch sử đã minh
oan lâu rồi.
(Tạp chí Lịch sử quân sự
- Tô Vĩnh Diện)
Lạc đạn
Em gái ruột tướng Giáp lấy
Trung tướng "ngụy" Nguyễn Ngọc Lễ. Ngày 30-4-1975, em gái
bỏ Sài Gòn theo chồng "chạy" qua Mỹ (1).
Không hiểu bà ta đã nghĩ gì về ông anh cộng sản đang thần
tốc tung quân truy kích lính quốc gia?!
(Đèn cù - Trần Đỉnh)
(1) -
( ??? ) Thực ra tướng Nguyễn Ngọc Lễ đã từ trần tại
Sài Gòn năm 1972, trước đó 3 năm !!!
|