Chim Việt Cành Nam            [  Trở Về  ]          [ Trang chủ

JACQUES PRÉVERT,
nhà thơ của tự do ( 1900 - 1977 )

Thân Trọng Sơn

Phải nói gì đây để giới thiệu JACQUES PRÉVERT ?

Một tác giả chuyên viết kịch bản và đối thoại cho phim ảnh ? Một nhà văn viết truyện thiếu nhi ? Một kịch tác gia sáng tác và phóng tác nhiều vở kịch cho Nhóm Kịch Tháng Mười ? Một người yêu hội họa, bạn thân của các danh họa Braque, Picasso, Max Ernst... , tự minh họa nhiều sách của mình, từng sáng tác và triển lãm tranh cắt dán ? Một nhà thơ lúc nhỏ chỉ ngồi trên ghế nhà trường đến 15 tuổi mà về sau có tác phẩm được đưa vào sách giáo khoa làm tài liệu học tập cho bao nhiêu thế hệ người học tiếng Pháp ? Một tác giả ca từ của hàng chục bản nhạc được những giọng ca hàng đầu của làng âm nhạc Pháp giới thiệu từ nửa thế kỷ nay và được người yêu nhạc khắp nơi trên thế giới thuộc nằm lòng, kể cả qua các bản dịch ?

Chân dung của JACQUES PRÉVERT đã được khắc họa qua những lĩnh vực đa dạng và phong phú như thế. Sinh ra cùng với thế kỷ XX và sống đến 3/4 thế kỷ này, JACQUES PRÉVERT đã để lại cho đời những dấu vết sâu đậm. Năm 1992, mười lăm năm sau khi Ông qua đời, toàn bộ tác phẩm của Ông đã được in trong Tủ sách Pléiade, một tủ sách "sang trọng" dành cho những tác giả mà tài năng và danh tiếng đã được thừa nhận. Tập thơ Paroles ( Lời nói ) xuất bản lần đầu vào tháng 5 năm 1946, chỉ một tuần sau đã in thêm 5000 bản, đến nay vẫn còn tái bản và tính ra đã có hơn hai triệu bản in. Khắp nơi trên đất Pháp hiện nay có hàng trăm trường học mang tên Ông, chỉ tính riêng trường trung học ( collège / lycée ) có đến 309 trường.

Ngay từ năm 1925, Ông đã đồng hành cùng nhóm Siêu thực, cùng sáng tác và sinh hoạt với các nghệ sĩ của nhóm này như Raymond Queneau, Yves Tanguy, Marcel Duhamel, Louis Aragon và tất nhiên cả André Breton ; nhưng chẳng bao lâu, với bản tính thích độc lập và tự do sáng tạo, Ông đã sớm tách rời trường phái Siêu thực, tách rời mọi ràng buộc phái nhóm.

Trong thời gian từ 1932 đến 1936, Ông tham gia nhóm kịch Tháng Mười, viết nhiều vở kịch có nội dung khuynh tả, bênh vực những người bị áp bức, bóc lột. Nhóm thường trình diễn trong các khu lao động , các nhà máy, cửa hàng, đã từng sang Nga biểu diễn năm 1933. Năm 1950, Ông đã từng lên tiếng ủng hộ Henri Martin, người lính hải quân ( sau này là lãnh tụ của Đảng Cộng sản Pháp ) đứng ra rải truyền đơn kêu gọi nhân dân Pháp chống lại cuộc chiến tranh của Pháp tại Đông Dương. Thế nhưng, khác với Aragon, Ông không hề gia nhập đảng Cộng sản.

Đồng thời với việc viết kịch bản và đối thoại phim - khiến tên tuổi Ông gắn liền với tên tuổi của đạo diễn nổi tiếng Marcel Carné và các diễn viên lừng lẫy như Jean Gabin, Michèle Morgan - JACQUES PRÉVERT làm thơ khá sớm. Suốt thời gian từ 1929 đến 1945, thơ của Ông xuất hiện rải rác trong các tạp chí hoặc dưới dạng bản đánh máy. Mãi đến năm 1946, một người bạn thân của Ông là René Bertelé, phụ trách nhà xuất bản Le Point du Jour, mới tập hợp lại và cho ra mắt người đọc, lấy nhan đề là Paroles, mở đầu cho một loạt tác phẩm đều đặn xuất hiện sau đó : Histoires ( 1946 ), Spectacles ( 1951 ),Grand bal du printemps ( 1951 ), Charmes de Londres (1951 ), L'opéra de la lune ( 1953 ), La pluie et le beau temps ( 1955 ), Lumière d'homme (1955 ), Fatras ( 1966 ), Imaginaires ( 1972 ), Choses et autres ( 1972 ) , Hebdromadaires ( 1972 ) và, sau khi Ông mất, Soleil de nuit ( 1980 ), La cinquième saison ( 1984 ).

Ngay từ các tập đầu tiên, thơ JACQUES PRÉVERT đã chinh phục người đọc mọi lứa tuổi bằng một thứ ngôn ngữ giản dị, dễ hiểu. Ông không coi trọng cú pháp, vần luật, diễn đạt nhẹ nhàng, hồn nhiên, có khi như là văn nói. Cái nhan đề PAROLES ( Lời nói ) cũng phần nào hàm chứa ý đó. Mà nhìn kỹ một chút thì PAROLES chính là anagramme ( sắp xếp, đảo lộn thứ tự các chữ cái ) của LA PROSE ( văn xuôi ) đó thôi. Cái xu hướng tự do của Ông trước hết thể hiện ở chỗ trong cùng một tác phẩm, Ông đưa vào đủ loại thơ : thơ có vần, thơ tự do, thơ kể chuyện, trữ tình, công kích, có bài như một tiểu phẩm ( saynète ), có những bài rất ngắn ( 3 câu, 4 câu ), có bài dài trên 30 trang ( La crosse en l'air / Gậy quyền chỉ lên trời ). Bài " Les paris stupides / Những cuộc đánh cá xuẩn ngốc ) chỉ vỏn vẹn thế này :

Un certain Blaise Pascal
Etc..etc..

Một ông Blaise Pascal nào đó
v.v...v.v...
( Ý nghĩa bài này thế nào ? Chưa thấy ai " giải mã ". ).

Ông thoải mái sử dụng đủ mọi hình thức chơi chữ ( jeux de mots ) : điệp âm, đồng âm, lặp lại, nói lái, đảo ngược ... Ông đặt tên cho một tác phẩm của mình là HEBDROMADAIRES. Đó là mot valise tức là một từ mới được tạo ra bằng cách ghép một/ vài âm tiết của một từ với một/ vài âm tiết của từ khác ( hebdomadaire + dromadaire ). Tương tự như thế Ông viết un alcolonel ( alcool+colonel ) ... Ông chơi chữ với hình thức đồng âm ( homonymie ) : De deux choses lune / l'autre c'est le soleil. ( l'une - l'autre và lune. ) Cũng là đồng âm nhưng ví dụ sau đây thật là bất ngờ :
Les conquérants : Terre ... Horizon . Terrorisons.
Còn học trò Hamlet ( trong bài L'accent grave ) khi chia động từ " être " đã nói
Je suis ou je ne suis pas rồi tiếp : Je suis " où " je ne suis pas
và kết luận : Être " où " ne pas être / C'est peut-être aussi la question.
thì chỉ với một cái dấu accent grave, không chỉ thầy giáo mà cả Shakespeare cũng phải ngạc nhiên.

Bài CHANT SONG trong tập Spectacles không thể nào dịch được vì đây là kiểu chơi chữ đậm phong cách PRÉVERT :

Moon lune
chant song
rivière river
garden rêveur
petite house
little maison ....
Một vài câu trích dẫn ( citations ) Ông đưa ra cũng rất thú vị :
" Người phụ nữ là một tư tưởng, mạnh mẽ nhất của tạo hóa, nhưng là một tư tưởng hay nhảy nhót. " ( La femme est une pensée, la plus forte de la nature, mais c'est une pensée dansante).
( Ta không quên câu của Pascal : " Con người là một cây sậy, yếu đuối nhất của thiên nhiên, nhưng là một cây sậy biết suy tư. " ( " L'homme est un roseau, le plus faible de la nature, mais c'est un roseau pensant. " )
" Nếu lời nói là bạc và im lặng là vàng thì tiếng kêu của con tim là một hạt kim cương muôn màu muôn sắc. " ( Si la parole était d'argent et le silence d'or, le cri du cur serait alors un diamant multicolore.)
" Khi sự thật không được tự do thì tự do không thật : những sự thật của cảnh sát là những sự thật của hôm nay. " ( Quand la vérité n'est pas libre la liberté n'est pas vraie : les vérités de la police sont les vérités d'aujourd'hui.)
" Có lẽ phải cố gắng hạnh phúc dầu chỉ là để làm gương " ( Il faut essayer d'être heureux, ne serait-ce que pour donner l'exemple. "

Một đặc trưng khác của ngôn ngữ PRÉVERT là việc dùng hàng loạt danh từ, tính từ liên tiếp nhau, tiêu biểu là bài Inventaire/ Liệt kê :

Một viên đá
Hai ngôi nhà
Ba phế tích
Bốn phu đào huyệt
Một khu vườn
Những bông hoa
Người đọc tưởng như đây chỉ là những liên tưởng ngẫu hứng, không có một trật tự, một ý tưởng nào. Nhưng đọc xuống đoạn sau :
Một ông đeo bắc đẩu bội tinh.
đi liền sau câu
Một cánh cửa với tấm thảm chùi chân
hoặc 
Một vị giáo sĩ một cái mụn nhọt...
thì chắc chắn không phải là ngẫu hứng nữa rồi.

Thế đó, JACQUES PRÉVERT viết như một nhà ảo thuật của ngôn từ nhưng điều này không có nghĩa là thơ Ông dễ dãi, hời hợt. Là người sớm vào đời lao động kiếm sống, Ông tỏ ra đồng cảm với những cảnh đời khốn khó, chia sẻ với những thân phận bị áp bức, bóc lột. Ông lớn tiếng chống lại những thế lực tước đi tự do và hạnh phúc của con người, và, ở đây, không có đề tài nào là cấm kỵ ( tabou ) đối với Ông.

Cho dù đó là tôn giáo :

Lạy Cha chúng tôi ở trên trời
Xin Người cứ ở đó
Còn chúng tôi, chúng tôi cứ ở dưới đất
Trái đất đôi khi rất xinh đẹp...
( Pater Noster )
Cho dù đó là vương quyền :
Louis XIV mà người ta còn gọi là Vua Mặt trời
Thường hay ngồi trên chiếc ghế thủng
Vào khoảng cuối triều đại mình
Một đêm trời tối đen
Vua Mặt trời bước ra khỏi giường
Đến ngồi trên chiếc ghế
Và mất hút.
( L'éclipse )
Ngược lại, Ông luôn ca ngợi tình yêu, thương yêu trẻ em, quan tâm đến thú vật - đấy là những chủ đề quen thuộc trong thơ JACQUES PRÉVERT.

Ông luôn nhắc đến thú vật trong thơ của mình, đặc biệt là loài chim. Chỉ riêng trong tập Paroles chim đã hiện diện trong hơn hai mươi bài. Chim có thể chịu một số phận bi thảm, chim bị mèo vồ ăn mất một nửa rồi được cả làng tổ chức cho một đám tang thật to ( Le chat et l'oiseau / Mèo và chim ), chim chết cả hàng ngàn con khi bay về từ hải đảo vì lóa mắt trước ánh sáng ngọn hải đăng nên va đập vào nhau ( Le gardien de phare aime trop les oiseaux / Người gác hải đăng quá yêu chim ). Nhưng chim bao giờ cũng là biểu tượng của tự do : Vẽ chim thì trước hết phải vẽ cái lồng với cánh cửa để mở, rồi khi chim tự bay vào lồng rồi thì hãy tháo gỡ dần từng chiếc chấn song, có thế chim mới cất tiếng hót ( Pour faire le portrait d'un oiseau / Để vẽ chân dung một con chim ). Chim phải được thoải mái bay chuyền từ cành này sang cành khác ( Le désespoir est assis sur un banc / Tuyệt vọng ngồi trên chiếc ghế băng ).

Càng yêu thương loài vật, Ông càng dành nhiều tình cảm cho tuổi thơ. Trẻ em không thể mãi là cậu học trò nhỏ cứ phải đứng trước lớp để cho " người ta hỏi nó / đủ mọi thứ vấn đề ". Trẻ em phải được quyền nói có với những gì mà nó thích, phải được lấy phấn đủ màu / trên tấm bảng thương đau / vẽ khuôn mặt hạnh phúc. ( Le cancre / Học trò lười ). Trẻ em không thể mãi bị tra tấn bởi những bài học nhàm chán hai với hai là bốn, bốn với bốn là tám ...khi mà từ bên ngoài lớp học tiếng chim hót vọng đến. Trẻ em phải được hát được chơi với chim để cho  "  tám với tám bỏ đi / và bốn với bốn và hai với hai / cũng lần lượt chuồn theo... " và lúc đó thì :

... các bức tường lớp học
yên lặng sụp đổ
rồi cửa kính trở lại thành cát
mực viết trở lại thành nước
bàn học trở lại thành cây
phấn viết trở lại thành vách đá
cán bút trở lại thành chim.
và trẻ em trở lại với khung trời mơ mộng của lứa tuổi thần tiên. ( Page d'écriture / Trang viết ).

Đối với JACQUES PRÉVERT, tình yêu rất cần cho cuộc sống, yêu là sống và sống là yêu :

Chúng ta yêu nhau và chúng ta đang sống
Chúng ta đang sống và chúng ta yêu nhau
Và chúng ta không biết cuộc đời là gì đâu
Và chúng ta không biết hôm nay là ngày mấy
Và chúng ta không biết tình yêu nó ra sao.
( Chanson / Bài ca )
Đó là tình cảm nhẹ nhàng tinh khiết của những đứa trẻ ôm hôn nhau " trong ánh sáng chói lòa của mối tình đầu tiên " ( Les enfants qui s'aiment / Những đứa trẻyêu nhau ), tình yêu của đôi trai gái cùng mới mười lăm tuổi phải " ăn gian " cọng tuổi cả hai để nói chúng ta đã ba mươi tuổi rồi chúng ta đã có quyền yêu nhau. ( Embrasse-moi / Hãy ôm hôn em ). Thơ tình của JACQUES PRÉVERT bao giờ cũng mượt mà trau chuốt, kể cả những bài rất ngắn. ALICANTE chẳng hạn. ( Alicante là tên một thành phố hải cảng của Tây Ban Nha, cũng là tên một thứ rượu vang nổi tiếng sản xuất ở đây.) Có thể nói Jacques Prévert đã vận dụng sở trường về hội họa và kịch nghệ trong bài này. Bài thơ mở đầu với hình ảnh một bức tranh tĩnh vật :
(1)Một trái cam trên bàn
(2)Áo em trên tấm thảm
Điều thú vị là tác giả đã chuyển hình ảnh này sang đoạn sau bằng sự nhắc lại mà không trùng lặp ở hai câu 4 và 5 :
(4)Tặng phẩm ngọt ngào của hiện tại
(5)Khí mát của đêm thanh
Đến câu thứ ba ( được nhắc lại ở câu thứ 6 ) không gian tĩnh đã nhường chỗ thế giới động với sự xuất hiện của nhân vật :
(3)Và em trên giường anh
..................
(6)Hơi ấm của đời anh.
Và như thế tranh vẽ đã chuyển thành màn kịch ngắn với ngôn ngữ không lời, bố cục độc đáo của bài thơ mở ra nhiều hướng cho người đọc tự cảm nhận.

BARBARA là một kiểu thơ tình khác. Đây là một cuộc tình bi tráng trong chiến tranh. Cô gái " tươi cười hân hoan rạng rỡ " vừa mới choáng ngợp trong tình yêu chạy dưới mưa " ngã vào trong vòng tay " chàng trai đã sớm đối diện với " cuộc chiến tranh xuẩn ngốc". Cả hai phải chia tay trong bối cảnh thành phố Brest bị dội bom khốc liệt đến mức tất cả đều bị hủy diệt :

Xa, xa hẳn Brest
Thành phố không còn chút dấu vết.
Câu kết của bài dịch như trên không diễn được cái âm thanh khô khốc, lạnh lùng, bi thương của từ RIEN trong nguyên tác.

Thơ của JACQUES PRÉVERT còn được chắp cánh bay xa khi chuyển thành nhạc. Bài thơ đầu tiên được phổ nhạc là bài Les animaux ont des ennuis, phần nhạc do một người bạn gái thuở thiếu thời của Ông là Christiane Verger viết từ năm 1928. Về sau, rất nhiều tác giả khác đã sáng tác nhiều ca khúc bất hủ từ thơ của Ông, ngoài Joseph KOSMA ( 1905-1969 ) được nhiều người biết còn có thể kể Louis Bessières, Hanns Eisler, Wal-Berg, Georges Auric, Jo Warfield, Henri Crolla, Sebastien .... Mấy chục năm nay những bài này đã được nhiều thế hệ ca sĩ trình bày như Agnès Capri, Marianne Oswald, Germaine Montero, Fabien Loris , nổi tiếng hơn là Juliette Gréco, Yves Montand, Mouloudji, les frères Jacques, Edith Piaf và hiện nay còn có Jean Guidoni, Catherine Ribeiro, Djemel Charif. Bài LES FEUILLES MORTES ra đời từ 1945, đến nay vẫn còn nhiều người thích hát hoặc thích nghe.

JACQUES PRÉVERT đã đi qua thời đại đầy biến động của Ông với một thái độ tỉnh táo, không gò mình trong khuôn phép của trường phái nghệ thuật, không để bị ràng buộc bởi xu hướng chính trị, tự khẳng định mình qua nhiều hình thức biểu hiện và nổi trội hơn cả vẫn là thơ vì với Ông " Thơ ca có mặt ở khắp nơi cũng như Thượng đế chẳng có ở đâu cả.Thơ ca là một trong những biệt danh xác thực nhất, hữu dụng nhất của cuộc đời" (La poésie est partout comme Dieu n'est nulle part. La poésie, c'est un des plus vrais, un des plus utiles surnoms de la vie". Thế giới thơ của JACQUES PRÉVERT, cũng như chính con người JACQUES PRÉVERT, bao giờ cũng tự do, tự do như khí trời, tự do như mây gió, tự do như hoa cỏ trong ĐỒNG XANH ( pré vert ) .

THÂN TRỌNG SƠN


 
THƠ TÌNH JACQUES PRÉVERT
- Lễ hội
- Tôi hạnh phúc
- Khi cuộc đời...
- Những người tình bị phụ rẫy
- Alicante
- Bài ca người cai ngục
- Bộ mặt dịu hiền  - Bài ca
- Những đứa trẻ yêu nhau
- Những chiếc bóng
- Hãy ôm hôn em
LỄ HỘI
Và những chiếc ly đã cạn
và cái chai đã vỡ
Và cái giường mở rộng
và cánh cửa đã đóng
Và tất cả các vì sao bằng pha lê
của hạnh phúc và của vẻ đẹp
sáng ngời trong bụi bặm
của căn phòng quét dối
Và anh say như chết
và anh là ngọn lửa vui
và em say sinh động
khỏa thân hoàn toàn trong vòng tay anh.
TÔI HẠNH PHÚC
Tôi hạnh phúc
Hôm qua chàng nói với tôi
rằng chàng yêu tôi
Tôi hạnh phúc và tự hào
và tự do như ánh sáng
Chàng đã không nói thêm
rằng chàng yêu tôi mãi mãi.
KHI CUỘC ĐỜI ...
Khi cuộc đời là một xâu chuỗi
mỗi ngày là một viên ngọc
Khi cuộc đời là một chiếc lồng
mỗi ngày là một giọt nước mắt
Khi cuộc đời là một khu rừng
mỗi ngày là một cái cây
Khi cuộc đời là một cái cây
mỗi ngày là một cành cây
Khi cuộc đời là một cành cây
mỗi ngày là một chiếc lá.

Khi cuộc đời là biển cả
mỗi ngày là một cơn sóng
mỗi cơn sóng là một tiếng than
một bài ca một cơn rùng mình.

Khi cuộc đời là trò cờ bạc
mỗi ngày là một lá bài
con rô hay con chuồn
con bích lúc vận xui.

Và khi đến lúc hên
những lá bài của tình ái
là cái mông và con cơ.

NHỮNG NGƯỜI TÌNH BỊ PHỤ RẪY
Anh từng có một cây đèn
Và em, em là ánh sáng.
Tim đèn, ai đã đem bán ?
[ về đầu trang thơ ]
ALICANTE
Một trái cam trên bàn
Áo em trên tấm thảm
Và em trên giường anh
Tặng phẩm ngọt ngào của hiện tại
Khí mát của đêm thanh
Hơi ấm của đời anh.
BÀI CA NGƯỜI CAI NGỤC
Đi đâu đấy chàng cai ngục đẹp trai
Với chiếc chìa khóa dính đầy vết máu
Tôi đi giải thoát người tôi yêu dấu
Nếu như còn có đủ thời gian
Người mà tôi đã nhốt
Êm ái bạo tàn
Nơi kín đáo nhất của niềm khát vọng
Nơi sâu thẳm nhất của nỗi dày vò
Trong điều dối trá của tương lai
Trong lời ngu dại của thề bồi
Tôi muốn giải thoát nàng
Tôi muốn cho nàng được tự do
Kể cả tự do quên tôi
Kể cả tự do bỏ đi mất
Kể cả tự do về lại
Và hãy còn yêu tôi
Hay đi yêu người khác
Nếu nàng thích người khác
Và nếu tôi còn lại một mình
Và nàng đã bỏ đi xa
Tôi chỉ còn giữ lại
Tôi mãi hoài giữ lại
Trong hai lòng bàn tay
Giữ mãi tận cuối đời
Sự dịu êm của bầu ngực nàng
được tạo dáng bởi tình yêu.
BỘ MẶT DỊU HIỀN
VÀ NGUY HIỂM CỦA TÌNH YÊU
Bộ mặt dịu hiền và nguy hiểm
của tình yêu
đã hiện ra với em
một buổi chiều
sau một ngày dài đằng đẵng
Có lẽ đấy là một xạ thủ
với cây cung của chàng
hoặc là một nhạc công
cùng với chiếc thụ cầm.
Em không biết nữa
Em không biết gì hết
Điều mà em biết
là chàng đã làm em bị thương
Có lẽ bằng một mũi tên
Có lẽ bằng một bài hát
Điều mà em biết
là chàng đã làm em bị thương
bị thương ở tim rồi
và đời đời
Nóng như đốt như thiêu
vết thương của tình yêu.
BÀI CA
Hôm nay là ngày mấy
Hôm nay như mọi ngày
   Cô bạn của tôi ơi
Hôm nay như suốt cả đời
   Em yêu của anh ơi
Chúng ta yêu nhau và chúng ta đang sống
Chúng ta đang sống và chúng ta yêu nhau
Và chúng ta không biết cuộc đời là gì đâu
Và chúng ta không biết hôm nay là ngày mấy
Và chúng ta không biết tình yêu nó ra sao.
NHỮNG ĐỨA TRẺ YÊU NHAU
Những đứa trẻ yêu nhau đang đứng
Dựa vào cánh cửa của đêm tối mà hôn nhau
Khách qua đường đưa tay chỉ chỏ
Nhưng những đứa trẻ yêu nhau
Đứng đó chẳng vì người nào
Chỉ chiếc bóng của chúng
Chập chờn trong đêm thâu
Khiến khách qua đường giận dữ
Giận dữ ghét khinh cười cợt thèm thuồng
Những đứa trẻ yêu nhau đứng đó chẳng vì ai
Chúng đang ở nơi nào khác xa hơn cả bóng đêm
Cao hơn cả ban ngày
Trong ánh sáng chói ngời của mối tình đầu tiên.
[ về đầu trang thơ ]
NHỮNG CHIẾC BÓNG
Em ở đó
trước mặt anh
trong ánh sáng của tình yêu
Và anh
anh ở đó
trước mặt em
với âm nhạc của tình yêu
Nhưng bóng em
trên tường
rình rập từng khoảnh khắc
của đời anh
Và bóng anh
cũng thế
rình chờ tự do của em
Thế nhưng anh yêu em
Và em yêu anh
như thể ta yêu ánh sáng và cuộc sống hay mùa hè
Nhưng bởi những giờ khắc tiếp nối nhau
không bao giờ điểm cùng lúc
hai chiếc bóng của chúng ta đuổi theo nhau
như hai con chó cùng một lứa
giật đứt khỏi cùng một sợi giây buộc
nhưng cả hai đều thù nghịch với tình yêu
chỉ trung thành với ông chủ
với bà chủ của chúng
và kiên nhẫn đợi chờ
nhưng run rẩy vì tuyệt vọng
chờ đôi tình nhân chia tay
đợi chờ
đời ta kết thúc
và cuộc tình đôi ta
chờ xương cốt chúng ta ném ra cho chúng
để vồ lấy
và che giấu cuộc tình và chôn vùi xương cốt
và tự chôn vùi luôn
tự chôn vùi cùng lúc
dưới tro tàn của khát vọng
trong mảnh vỡ của thời gian.
HÃY ÔM HÔN EM
Trong một khu phố ở thành phố Ánh sáng
Nơi luôn tối đen nơi chẳng có không khí bao giờ
Và đông cũng như hè lúc nào cũng như mùa đông
Nàng đang đứng nơi cầu thang
Chàng bên cạnh nàng và nàng bên cạnh chàng
Lúc này là ban đêm
Và nàng nói với chàng
Ở đây tối như mực
Không có chút khí trời
Đông cũng như hè lúc nào cũng là mùa đông
Mặt trời của Chúa nhân từ không chiếu tới chỗ chúng ta
Vì còn bận rộn quá nhiều ở những khu phố giàu có
Hãy siết chặt em trong vòng tay anh
Hãy ôm hôn em
Hãy ôm hôn em thật lâu
Hãy ôm hôn em
Để lát nữa sẽ là quá muộn
Đời chúng mình là giây phút này đây
Ở đây ta chết vì đủ thứ
Vì nóng vì lạnh
Chết cóng hay chết ngạt
Ta không có khí thở
Nếu anh thôi không ôm hôn em nữa
Chừng như em sẽ chết ngạt mất thôi
Anh mười lăm và em cũng mười lăm tuổi rồi
Cả hai ta vậy là tròn ba mươi
Tuổi ba mươi ta không còn là trẻ nhỏ
Ta đã có quyền lao động
Ta đã có quyền ôm hôn nhau
Để lát nữa sẽ là quá muộn
Đời chúng mình là giây phút này đây
Hãy ôm hôn em.
Thơ JACQUES PRÉVERT
THÂN TRỌNG SƠN chuyển ngữ.
[ về đầu trang thơ ]